Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2018
Cập nhật: 01/10/2018 12:04:19 PM
Với quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ kế hoạch năm 2018; cùng với sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng, các cấp chính quyền, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định và đồng đều ở các lĩnh vực.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Đến nay, công tác gieo trồng cây hàng năm vụ mùa đã được các địa phương thực hiện xong. Nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tháng 8 là tập trung chăm sóc lúa mùa, điều tra phát hiện và tổ chức phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng vụ mùa, tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm.

1.1. Trồng trọt

Tính đến hết tháng 8, các địa phương đã gieo cấy xong diện tích lúa vụ mùa, hầu hết diện tích lúa được gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất. Diện tích gieo cấy lúa mùa khoảng 57.950 ha (-1,4% so với cùng kỳ) và 6.855 ha cây rau các loại (+1,3% so với cùng kỳ).

Hiện nay, nông dân đang tích cực chăm sóc, thu hoạch rau màu hè thu để chuẩn bị tiến hành gieo trồng cây vụ đông sớm cho hiệu quả kinh tế cao. Rau màu hè thu năm nay sinh trưởng, phát triển tương đối thuận lợi do không có bão xuất hiện và thời tiết nắng nóng hơn năm trước. Một số cây rau mầu đã cho thu hoạch, nhìn chung năng suất cao hơn cùng kỳ năm 2017.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 8, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không có dịch bệnh xảy ra. Thời điểm này chăn nuôi lợn đang phục hồi, do giá thịt hơi xuất chuồng ở mức cao, người chăn nuôi có lãi, đàn lợn đang có xu hướng tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm 2017. Tổng đàn lợn thịt tại thời điểm tháng 8 ước đạt 493.933 con, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.125 con, giảm 2,5%; đàn bò ước đạt 21.586 con, tăng 3,3%  so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 10.200 nghìn con, tăng 2,6 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà ước tăng 2,7%.

1.3. Thuỷ sản

Trong tháng 8, sản xuất thủy sản ổn định. Diễn biến dịch bệnh phát sinh gây hại nhiều hơn so với cùng kỳ năm 2017. Một số diện tích ao nuôi cá trắm cỏ bị nhiễm bệnh làm cá chết.

Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện đặc điểm mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh; phương thức nuôi thủy sản lồng/bè được duy trì phát triển, các giống cá chủ lực và giống đặc sản cho năng suất và giá trị cao vẫn được duy trì và phát triển như Trắm giòn, Chép giòn, cá Lăng, cá Rô phi đơn tính...

2. Sản xuất công nghiệp

Tháng 8, giá trị sản xuất công nghiệp tăng thấp hơn các tháng trước đó do một số nguyên nhân:

- Thời tiết mưa nhiều nên sản lượng khai thác sụt giảm mạnh, đồng thời do sản xuất xi măng và hoạt động sản xuất, điện giảm

- Sản xuất thức ăn chăn nuôi tiếp tục sụt giảm do đàn gia súc (đàn lợn) giảm và giá nguyên liệu đầu vào tăng;

- Sản lượng xi măng giảm do tình trạng cung vượt cầu.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng 1,6%; trong đó khai khoáng giảm 2,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 3,4%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải giảm 1,8%.

So với cùng kỳ, sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng 6,1%; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,8%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 20,7%; hai ngành còn lại giảm là sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 10,0% và khai khoáng giảm 38,8%. Nguyên nhân là do ngành điện đã tham gia thị trường bán buôn điện cạnh tranh trong khi đã bước vào mùa mưa giá thành của thủy điện thấp có sức cạnh tranh cao, trong khi đó Hải Dương lại là nhiệt điện nên nhân việc đó nhà máy nhiệt điện trên địa bàn tỉnh giảm công suất hoặc dừng một số tổ máy để đại tu, bảo dưỡng dẫn đến sản lượng điện giảm.

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng đó là: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 30,3%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 32,9%; bao bì và túi bằng giấy (trừ giấy nhăn) tăng 14,9%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 16,0%; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công tăng 16,3%; mạch điện tử tích hợp tăng 18,6%; bộ phận của các linh kiện điện tử khác chưa được phân vào đâu tăng 23,4%; máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, coppy... tăng 13,0%; máy khâu loại khác, trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình tăng 34,9%; xe có động cơ chở được 05 người trở lên chưa được phân vào đâu tăng 38,1%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 9,5%; nước uống được tăng 16,4%...

Tính chung 8 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,3%; trong đó, đa số các ngành đều tăng như công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 5,4%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 15,3%; riêng ngành khai khoáng giảm 26,6%.

Nhiều ngành sản xuất chiếm tỷ trọng khá cao đều tăng như: sản xuất trang phục (+26,2%); sản xuất các sản phẩm điện tử (+23,4%); sản xuất thiết bị điện (+18,3%); Sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic (+25,8%); sản xuất kim loại (+9,4%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (+13,9%); sản xuất xe có động cơ tăng 5,5%.  

Các sản phẩm có lượng sản xuất tăng như: sản xuất giày dép (+10,1%); bộ com-lê, bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket,… cho người lớn (+36,3%); giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài (+10,1%); mạch điện tử tích hợp (+23,0%); máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, coppy... (+18,4%); cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác (+16,5%); sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu (+25,9%); sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công (+8,5%).

Bên cạnh đó cũng còn một số ngành có lượng sản xuất giảm như: khai khoáng (-26,6%); sản xuất chế biến thực phẩm (-8,6%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (-9,4%)… tương ứng, sản lượng một số sản phẩm giảm: đá khai thác(-21,4%); thức ăn cho gia súc (-12,1%); clanke xi măng (-7,0%); xi măng portland (-10,2%).

2.2. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 tăng 4,4% so với tháng trước; tăng 7,9% so với cùng kỳ; tính chung 7 tháng đầu năm tăng 8,2%.

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao đó là: sản xuất trang phục tăng 23,6%; chế biến gỗ và sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tre nứa… tăng 16,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 30,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 29,3; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 19,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 31,5%...

2.3. Chỉ số tồn kho

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại thời điểm 01/8 tăng 0,5% so với tháng trước; tăng 4,7% so với cùng kỳ.

Các ngành có chỉ số tồn kho giảm là: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 26,7%; sản xuất đồ uống giảm 64,8%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ giảm 27,8%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 46,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic giảm 14,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) giảm 45,8%; sản xuất thiết bị điện giảm 24,2%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 31,4%...

2.4. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tại thời điểm 01/8, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với tháng trước; tăng 3,5% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng đầu năm tăng 3,7%.

Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,8%; in, sao chép bản ghi tăng 10,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 9,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 26,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,7%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 22,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,6%...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7 đạt 172,9 tỷ đồng, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 74,5 tỷ đồng, đạt 11,4% so với kế hoạch năm, giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện  đạt 89,2 tỷ đồng  đạt 9,9% kế hoạch năm; vốn ngân sách cấp xã đạt 9,2 tỷ đồng đạt 9,7% kế hoạch năm.

Ước tháng 8, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 201 tỷ đồng  tăng  5,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 79,5 tỷ đồng chiếm 12,2% kế hoạch năm, giảm 30,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã đạt 121,5 tỷ đồng chiếm 12,2% kế hoạch năm, tăng 61,5% so với cùng kỳ năm trước.

Ước 8 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 893,2 tỷ đồng giảm 13,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 437,6 tỷ đồng giảm 34,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 392,7 tỷ đồng  tăng 31,3%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 63,0 tỷ đồng tăng 3,8%.

4. Thương mại, dịch vụ

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 8 năm 2018 ước đạt 3.717tỷ đồng, so với tháng trước tăng 0,7%; tính chung 8 tháng đầu năm ước đạt 28.428 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 17.861 tỷ đồng, chiếm 62,8% và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 10.017 tỷ đồng, chiếm 35,3% và tăng 13,8%; các khu vực kinh tế còn lại chiếm tỷ trọng không đáng kể.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 8 ước đạt 766 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm ước đạt 5.610 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 3.777 tỷ đồng, chiếm 67,3% và tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.436 tỷ đồng, chiếm 25,6% và tăng 7,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 283 tỷ đồng, chiếm 5,0% và tăng 5,1% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 194 tỷ đồng, chiếm 3,5% trong tổng số và tăng 8,5% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 2.190 tỷ đồng, chiếm 39,0% và tăng 7,8%; dịch vụ khác đạt 3.197 tỷ đồng, chiếm 57,0%, tăng 7,5% so với cùng kỳ.  

4.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 8 ước đạt 673 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,2%; trong đó, vận tải hành khách đạt 119 tỷ đồng, tăng 0,7%; vận tải hàng hoá đạt 507 tỷ đồng tăng 1,3%.

Doanh thu 8 tháng đầu năm đạt 5.212 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vận tải hành khách đạt 947 tỷ đồng, tăng 11,3%; vận tải hàng hoá đạt 3.907 tỷ đồng, tăng 10,5%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 359 tỷ đồng, tăng 9,4%.

Tính chung 8 tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển đạt 17,3 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 10,8%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 1.018,0 triệu hành khách.km, tăng 9,9% so với cùng kỳ.

Tính chung 8 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 48,1 triệu tấn, tăng 10,2% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 3.342,8 triệu tấn.km, tăng 9,4% so với cùng kỳ.

4.3. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 0,79% so với tháng trước; tăng 3,19% so với tháng 12 năm trước; bình quân 7 tháng đầu năm tăng 2,75% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 

Các nguyên nhân làm tăng giá (so với tháng trước) là thịt gia súc tươi sống vànguồn cung các loại rau, củ giảm nên giá tăng.

         II. Một số vấn đề xã hội

1. Văn hóa, thể thao

Kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao chào mừng.

Văn hóa; Tối ngày 19/8, Nhà hát Chèo tỉnh tổ chức chương trình biểu diễn văn nghệ tại quảng trường Độc lập (TP. Hải Dương) với sự tham gia của 40 ca sĩ, diễn viên, nhạc công của nhà hát biểu diễn những tiết mục ca ngợi Đảng, Bác Hồ, tình yêu quê hương, đất nước.

Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức hội diễn sân khấu không chuyên; trao giải Cuộc phát động "Sáng tác ảnh thời sự và nghệ thuật năm 2018"; khai mạc triển lãm ảnh tư liệu thời sự, nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Trung tâm cũng tổ chức 2 đợt tuyên truyền lưu động tại các huyện, thị trong tỉnh; tổ chức chương trình dạ hội, đồng diễn thể dục dưỡng sinh, giao lưu cờ tướng, thơ.

Thể thao; Sáng ngày 19/8, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Tỉnh đoàn tổ chức giải bơi thiếu niên - nhi đồng năm 2018 tại bể bơi Yết Kiêu (TP. Hải Dương). Giải thu hút hơn 100 vận động viên đến từ 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tranh tài ở 12 nội dung.

Từ ngày 11/8 đến 13/8, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Giải cầu lông trẻ, thiếu niên, nhi đồng năm 2018. Tham dự giải có 277 VĐV nam, nữ đến từ 14 đơn vị trong tỉnh. Các VĐV được chia thành 4 nhóm tuổi (từ 9 - 11 tuổi, 12 - 13 tuổi, 14 - 15 tuổi, từ 16 - 18 tuổi), tranh tài ở 5 nội dung đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đôi nam - nữ.

2. Y tế

Để chủ động phòng tránh dịch bệnh trong mùa mưa bão, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh đã xây dựng kế hoạch và triển khai đến đội y tế dự phòng tuyến cơ sở tăng cường giám sát, phát hiện các ca bệnh; công tác quản lý hóa chất, vật tư phục vụ phòng, chống dịch trong mùa mưa bão.

Để làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, chính quyền địa phương và nhân dân cần tích cực chủ động ra quân dọn vệ sinh, khơi thông cống rãnh, ao nước tù đọng ở khu dân cư sau những đợt mưa lớn nhằm hạn chế tình trạng bệnh bùng phát và lây lan thành dịch.

Theo thống kê của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, toàn tỉnh hiện có 291 cơ sở tiêm chủng, gồm 265 cơ sở tiêm chủng mở rộng, 18 cơ sở tiêm vaccine viêm gan B và 8 cơ sở tiêm dịch vụ. Các cơ sở tiêm dịch vụ cung cấp 40 loại vaccine phòng bệnh, trong khi vaccine tiêm chủng mở rộng miễn phí mới có 9 loại triển khai trên địa bàn tỉnh. 

3. Giáo dục

Ngày 14/8, ngành giáo dục và đào tạo tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2017-2018 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm học 2018-2019.

Năm học vừa qua, toàn tỉnh có 65/98 em học sinh đoạt giải tại Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia với 02 giải Nhất, 10 giải Nhì, 26 giải Ba và 27 giải Khuyến khích. Bên cạnh kỳ thi học sinh giỏi các môn văn hóa, các cuộc thi về nghiên cứu khoa học kỹ thuật, văn hóa, thể dục thể thao được các em học sinh Hải Dương hưởng ứng nhiệt tình, từ đó giúp các em học sinh phát huy năng khiếu, sở trường, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện.

Kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 được tổ chức nghiêm túc, hiệu quả. Học sinh Hải Dương đạt tỷ lệ tốt nghiệp THPT là 98,89%. Năm học vừa qua, số trường chuẩn quốc gia các cấp tăng nhanh so với năm học trước, đặc biệt là ở cấp THCS và THPT[1].

Tỉnh tiếp tục được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ II và chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ III.

4. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trong tháng Tám, cơ quan chức năng đã phát hiện 5 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 5 vụ với tổng số tiền phạt 157 triệu đồng.

Tính chung 8 tháng đầu năm đã phát hiện 208 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 208 vụ với tổng số tiền phạt 2.123 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng Tám, trên địa bàn tỉnh không xảy ra  vụ cháy, nổ nào. Tính chung 8 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 23 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 2.497 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Tháng 7/2018, trên địa bàn tỉnh Hải Dương xảy ra 10 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm chết 10 người, bị thương 03 người. Bảy tháng đầu năm 2018 xảy ra 123 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 120 người và bị thương 71 người; so với cùng kỳ năm 2017, tai nạn giao thông tăng 42 vụ (+51,9%), tăng 38 người chết (+46,3%) và tăng 2 người bị thương (+3%)./.



[1] Tính đến tháng 6 năm 2018, toàn tỉnh có 653 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 63 trường so với năm học trước.


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2018 (01/10/2018)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2018 (28/07/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018 (28/06/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2018 (28/05/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2018 (28/04/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 năm 2018 (28/03/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay217 
 Hôm qua148
 Tuần này850 
 Tất cả370218 
IP: 3.80.218.53