Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018
Cập nhật: 04/08/2018 05:24:51 PM
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục ổn định, kinh tế đạt mức tăng trưởng cao, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước tăng 9,04% (KH năm tăng 8% trở lên); lĩnh vực văn hóa xã hội đạt được nhiều kết quả tích cực, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm thực hiện, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và ổn định; an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.
 

I. Kinh tế

1. Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm ước đạt 9,04%; tương đương mức tăng trưởng của quý I năm nay và cao hơn cùng kỳ năm trước.

So với 3 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp tăng thấp hơn nhưng các lĩnh vực khác (Nông lâm nghiệp, thủy sản; dịch vụ) đều tăng cao hơn nên GRDP vẫn giữ mức tăng tương đương.

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao hơn 1,2 điểm% góp phần làm cho GRDP tăng cao hơn 0,65 điểm%; sản xuất NLTS tăng cao hơn 1,11 điểm% góp phần làm cho GRDP tăng cao hơn 0,13 điểm%. Với mức tăng GRDP 9,04%, các ngành đóng góp cụ thể như sau:

- Ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 3,7%, đóng góp 0,5 điểm% vào tăng trưởng GRDP; trong đó, ngành trồng trọt ước tăng 5,4% tương đương tăng 348 tỷ đồng (riêng cây vải tăng 228 tỷ đồng); chăn nuôi tăng 0,9% tương đương 23 tỷ đồng; nuôi trồng thủy sản tăng 2,6% tương đương 24 tỷ đồng; riêng hoạt động dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nên ít tác động đến tăng trưởng của ngành.

- Ngành công nghiệp, xây dựng tăng 11,0%, đóng góp 6,0 điểm% vào tăng trưởng GRDP. Tình hình sản xuất kinh doanh tương đối khả quan, chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng tăng 10,6% so với cùng kỳ. Ngành xây dựng tăng trưởng khá do có khá nhiều dự án đầu tư (cả vốn trong nước và vốn nước ngoài) đã và đang triển kha; mặc dù vốn thực hiện từ nguồn NSNN giải ngân chậm (so với năm 2017) nhưng hoạt động xây dựng nhà ở trong dân tăng khá cao đã góp phần nâng cao giá trị sản xuất của ngành.

Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng 8,0% đóng góp 2,5 điểm% vào tăng trưởng GRDP. doanh thu các ngành dịch vụ như vận tải, kho bãi (+10,6%), thương mại bán lẻ (+11,6%), dịch vụ tiêu dùng (+7,8%) vẫn tăng ổn định.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

2.1. Sản xuất nông nghiệp

* Trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân đạt 89.889 ha, giảm 1,1% (-962 ha) so với cùng kỳ năm trước (vụ đông giảm 374 ha, vụ chiêm xuân giảm 588 ha); trong đó, diện tích vụ đông 21.435 ha, chiếm 23,9%; vụ chiêm xuân 68.454 ha, chiếm 76,1% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân.

Trong cơ cấu diện tích gieo trồng vụ đông xuân, cây lúa chiếm tỷ trọng cao nhất đạt 65,0% (năm 2014 là 67,6%; năm 2015 là 66,9%; năm 2016 là 66,4%; năm 2017 là 65,4%), tiếp đó là nhóm cây rau, đậu, hoa, cây cảnh (27,8%), các nhóm cây còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ không đáng kể.

Tổng diện tích gieo trồng vụ Chiêm xuân toàn tỉnh đạt 68.454 ha, giảm 0,9% (-588 ha) so với vụ Chiêm xuân năm 2017; trong đó: cây lương thực có hạt đạt 59.753 ha, chiếm 87,3% tổng diện tích gieo trồng vụ chiêm xuân, giảm 1,4% (- 821 ha) so với vụ chiêm xuân 2017. So với kế hoạch, tổng diện tích gieo trồng vụ chiêm xuân toàn tỉnh đạt 99,9% (KH 68.500 ha); trong đó, diện tích gieo trồng lúa đạt 99,1% (KH 59.000 ha); rau màu các loại đạt  105,2% (KH 9.500 ha).

Năng suất lúa vụ chiêm xuân sơ bộ đạt 65,7 tạ/ha, tăng 0,9% (+0,6 tạ/ha) so với vụ chiêm xuân 2017; sản lượng đạt 384.108 tấn, giảm 0,6%      (-2.405 tấn) so với cùng kỳ năm trước do diện tích giảm.

Năng suất ước tăng so với cùng kỳ năm trước là do diễn biến thời tiết năm nay thuận lợi cho lúa sinh trưởng và phát triển. Mặc dù đầu vụ một phần diện tích lúa của trà sớm khi trổ bông gặp thời tiết ít mưa (nhất là mưa rào) trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển nên cây lúa sinh trưởng và phát triển kém, bình quân số nhánh trong các khóm ít hơn cùng kỳ, thời tiết ấm nóng đã rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa nên chiều cao cây, chiều dài bông không đạt tiềm năng như các năm trước. Nhưng trà lúa trung và trà lúa muộn vụ chiêm xuân trỗ từ bông từ ngày 05 đến 25/5, trỗ tập trung từ ngày10 đến 20/5 gặp thời tiết thuận, cường độ ánh sáng mạnh, lúa vào chắc tốt, hạt mẩy, tỷ lệ chắc cao. Bên cạnh đó, vụ chiêm xuân năm nay sâu bệnh phát sinh gây hại ít hơn so với những năm trước, lúa tương đối sạch sâu bệnh, tỷ lệ chuột phá hoại ít hơn cùng kỳ nhiều năm.

Tổng diện tích trồng cây lâu năm 6 tháng đầu năm ước đạt 21.610 ha, giảm 0,4% (-96 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Trong tổng diện tích trồng cây lâu năm, diện tích trồng cây ăn quả ước đạt 21.089 ha, chiếm 97,6%, diện tích cây gia vị, dược liệu ước đạt 180 ha, chiếm 0,8%; diện tích cây lâu năm khác ước đạt 202 ha, chiếm 0,9%, các cây lâu năm còn lại là cây lấy dầu và cây chè búp chiếm tỷ trọng nhỏ.

Diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh giảm 0,1% (-28 ha) so với cùng kỳ năm trước do một số diện tích cây lâu năm già cỗi không cho hiệu quả kinh tế như: nhãn, vải đã bị phá bỏ, một phần diện tích đã được trồng thay thế bằng những cây trồng khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn như: ổi, na, xoài, đu đủ, hồng xiêm, mít,.... Điển hình như ở Thị xã Chí Linh (-168 ha vải so với cuối năm 2017); Ninh Giang (-53 ha vải); Cẩm Giàng (-7 ha vải); Thanh Hà (-7 ha vải);

Cây vải là cây lâu năm trọng điểm của tỉnh, 6 tháng đầu năm diện tích cây vải ước đạt 10.202 ha, giảm 2,5% (-257 ha) so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 48,4% diện tích cây ăn quả, chiếm 47,2% tổng diện tích cây lâu năm hiện có của tỉnh. Nguyên nhân diện tích trồng vải giảm do một vài năm gần đây, hiệu quả kinh tế cây vải mang lại không cao, tình trạng “được mùa mất giá” thường xảy ra, nên người dân chuyển sang trồng cây trồng khác có giá trị hơn như: cam đường canh, na, ổi, mít,... 

Sản lượng một số cây ăn quả chính của tỉnh đều tăng hơn so với cùng kỳ năm 2017 như: xoài sản lượng ước đạt 1.415 tấn, tăng 5,0% so với cùng kỳ; sản lượng chuối ước đạt  28.956 tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ; ổi sản lượng ước đạt 22.200 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ và cây ăn quả khác nhìn chung đều cho sản lượng cao hơn so với cùng kỳ.

Sản lượng vải ước đạt 56.720 tấn, tăng 95,0% (+27.627 tấn) so với năm trước. Năng suất vải thiều đạt cao nhất trong 10 năm trở lại đây, nguyên nhân do thời tiết diễn biến khá thuận lợi cho cây vải sinh trưởng và phát triển, đầu năm xuất hiện 3 đợt rét đậm thuận lợi cho cây vải phân hóa mầm hoa nên tỷ lệ ra hoa, đậu quả cao.

* Chăn nuôi

Trong 6 tháng đầu năm, không có dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, tình hình chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do hiệu quả chăn nuôi đạt thấp, nhất là chăn nuôi lợn giảm mạnh do giá bán thịt lợn hơi duy trì ở mức thấp, nhiều trang trại, gia trại và hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không tái đàn hoặc thu hẹp qui mô chăn nuôi. Đàn gia cầm của tỉnh vẫn được duy trì khá ổn định, nhất là đàn gà, thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi, giá bán thịt gia cầm ở mức có lãi cho người chăn nuôi.

Đàn trâu, bò có xu hướng tăng, tại thời điểm 01/7, tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.128 con, giảm 2,5%; đàn bò ước đạt 21.424 con, tăng 3,3%  so với cùng kỳ năm trước.

Đàn lợn thịt tại thời điểm 01/7 ước đạt 450.283 con, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt 48.426 tấn, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 12.347 nghìn con, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gia cầm ước đạt 16.338 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước.

2.2. Lâm nghiệp

Ước 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh có 80 ha diện tích rừng trồng được chăm sóc, tăng 55 ha so với cùng kỳ năm trước; trong đó, rừng trồng được chăm sóc khu vực nhà nước là 30 ha, còn lại là diện tích rừng trồng cây keo thuộc rừng sản xuất của khu vực hộ cá thể. Do nhà nước đang thẩm định cho hoạt động khoanh nuôi tái sinh rừng nên diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 6 tháng đầu năm không phát sinh. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 6.027 ha, chủ yếu là diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.

Trong 6 tháng đầu năm, cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 480 nghìn cây, giảm 22,5% so với cùng kỳ năm 2017, do quỹ đất trồng cây phân tán giảm.

Để phục vụ công tác trồng rừng và trồng cây phân tán, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển các vườn ươm các loại giống cây lâm nghiệp và nhân giống các loại cây lấy gỗ khác. Năm 2018, tổng số cây ươm giống lâm nghiệp toàn tỉnh ước đạt 93 ngàn cây, tăng 2,2% (+2.000 cây) so với vùng kỳ năm 2017, chủ yếu ở khu vực hộ cá thể.

Ước tính 6 tháng, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 620 m3, giảm 6,3% (-42 m3) so với cùng kỳ năm 2017; sản lượng khai thác củi đạt 75.000 ster, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,4%. Củi khai thác chủ yếu là chặt cành, làm cỏ, phát quang và tận dụng thu gom khi khai thác gỗ của cây trồng phân tán.

2.3. Thủy sản

Trong 6 tháng đầu năm, sản xuất thủy sản tương đối ổn định và đạt kết quả khá. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện đặc điểm mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh; phương thức nuôi thủy sản lồng/bè được duy trì phát triển, các giống cá chủ lực và giống đặc sản cho năng suất và giá trị cao vẫn được duy trì và phát triển như Trắm giòn, Chép giòn, cá Lăng, cá Rô phi đơn tính... Tuy nhiên, do diễn biến của thời tiết làm dịch bệnh phát sinh gây hại nhiều hơn so với cùng kỳ năm trước. Một số diện tích ao nuôi bị nhiễm bệnh làm cá chết hàng loạt.

Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản 6 tháng đầu năm ước đạt 11.210 ha, tăng 1,9% (+201 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích nuôi trồng thủy sản tăng là do một vài năm gần đây hiệu quả kinh tế từ việc nuôi trồng thủy sản đạt khá, một số diện tích mặt nước được đầu tư nuôi thâm canh, bán thâm canh rút ngắn thời gian cho thu hoạch. Cơ bản diện tích nuôi trồng thủy sản được đầu tư nuôi thâm canh, bán thâm canh. Toàn tỉnh hiện có 10.100 ha nuôi theo phương thức thâm canh, bán thâm canh chiếm 90,1% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản; 1.110 ha nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, chiếm 9,9%.

Tổng số lồng nuôi 6 tháng đầu năm ước đạt 3.378 lồng tăng 11,6% (+351 lồng) so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: cá diêu hồng ước đạt 1.457 lồng, chiếm 43,1%; cá lăng 1.180 lồng, chiếm 34,9%; cá chép 396 lồng, chiếm 11,7%; cá khác 345 lồng, chiếm 10,2%. Hiện nay, ngoài giống cá có chất lượng thịt cao như cá lăng, cá diêu hồng cũng được tiêu thụ với mức giá cao.

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 36.823 tấn, tăng 3,0% (+1.084 tấn) so với cùng kỳ năm 2017, chủ yếu là sản lượng thủy sản nuôi trồng. Tổng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 35.958 tấn, tăng 3,2% (+1.108 tấn) so với cùng kỳ năm 2017. Cá là loài thủy sản được  nuôi trồng chủ yếu trên địa bàn tỉnh, sản lượng ước đạt 35.935 tấn, chiếm 99,9% sản lượng thủy sản nuôi trồng, tăng 3,2% (+1.110 tấn) so với cùng kỳ năm 2017. Sản lượng nuôi tôm ước đạt 3 tấn, nuôi thủy sản khác đạt 20 tấn. Sản xuất giống thuỷ sản 6 tháng đầu năm ước đạt 608 triệu con, tăng 5,7% (+33 triệu con); trong đó, cá giống các loại 607 triệu con; giống thủy sản khác 1 triệu con. Nguyên nhân là do thời gian qua nhiều hộ dân đã được đầu tư tốt về kỹ thuật nên mở rộng thêm nhiều trại ươm giống thủy sản mới, chất lượng giống thủy sản được đảm bảo, nguồn giống thủy sản cung cấp cho cả người nuôi trong và ngoài tỉnh, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Phương thức nuôi trồng thủy sản lồng bè được duy trì và phát triển khá. Tại thời điểm 15/6/2018, trên địa bàn tỉnh ước có 3.378 lồng bè, với thể tích ước đạt 364.824 m3. Trong 6 tháng đầu năm, lưu lượng dòng chảy ổn định tạo điều kiện tốt cho cá phát triển. Hiện nay, giống cá nuôi lồng chủ yếu là giống cá chất lượng cao như cá lăng, cá Diêu hồng, cá Trắm giòn, Chép giòn được các hộ đầu tư nuôi thả vì chất lượng cá ngon, được nhiều nhà hàng, thực khách chọn lựa. Tổng sản lượng cá lồng 6 tháng đầu năm ước đạt 2.804 tấn chiếm 7,8% tổng sản lượng cá nuôi trồng. Trong đó: cá Diêu hồng ước đạt 1.469 tấn; cá Lăng đạt 829 tấn tăng 3,5% (+28 tấn) so với cùng kỳ năm 2017.

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương quý II năm 2018 nhìn chung vẫn duy trì được mức tăng trưởng khả quan, tuy nhiên mức tăng thấp hơn mức 12,2% của quý I. Nguyên nhân là do tác động trái chiều từ một số ngành như sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất xi măng, sản xuất xe có động cơ và các ngành có tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng đang chậm lại như: sản xuất than cốc, sản xuất sắt thép.

3.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng này ước tính  giảm 1,8%. Các ngành giảm là: khai khoáng khác giảm 3,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,0%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 6,0%; ngoại trừ ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 1,6%.

So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6 tăng 8,5%; trong đó đại đa số các nhóm ngành chính đều có lượng sản xuất tăng như: ngành chế biến, chế tạo tăng 8,7%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 9,5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý, xử lý nước thải, rác thải tăng 8,7%; riêng ngành khai khoáng giảm 34,9%.

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng cao và khá cao đó là: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 31,7%; áo sơ mi cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 14,9%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 30,2%; bao bì đóng gói khác bằng plastic tăng 10,8%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 14,4%; mạch điện tử tích hợp tăng 17,3%; bộ phận của các linh kiện điện tử khác chưa được phân vào đâu tăng 37,8%; máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, coppy... tăng 11,9%; dây dẫn điện dùng cho hiệu điện thế <= 1000v tăng 15,2%; xe có động cơ chở được 05 người trở lên chưa được phân vào đâu tăng 15,6%; bộ phận thiết bị điện khác dùng cho xe có động cơ tăng 10,4%; điện sản xuất tăng  10,6%...

Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp +10,6% so với cùng kỳ, trong đó nhiều sản phẩm có lượng sản xuất tăng như: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc +33,9%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác +25,5%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài +14,8%; than cốc và bán cốc luyện từ than đá +2,6%; bao bì đóng gói khác bằng plastic +27,1%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu +30,1%; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công +5,4%; thép hợp kim cán mỏng có chiều rộng < 600mm đã được dát, phủ, mạ hoặc tráng +10,3%; mạch điện tử tích hợp +24,2%; bộ phận của các linh kiện điện tử khác chưa được phân vào đâu +44,3%; máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, copy... +18,5%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác +20,8%; dây dẫn điện dùng cho hiệu điện thế <= 1000v +24,8%; máy khâu loại khác, trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình +12,2%; bộ đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ +8,9%; bộ phận thiết bị điện khác dùng cho xe có động cơ +14,8%; điện sản xuất +13,9%; nước uống được +21,8%...

Tuy nhiên cùng với đó cũng còn một số sản phẩm có lượng sản xuất giảm là: thức ăn cho gia súc -9,4%; clanke xi măng -7,9%; xi măng portland đen -4,0%; máy khâu loại dùng cho gia đình -18,6%; xe có động cơ chở được 05 người trở lên chưa được phân vào đâu -11,6%.

Trong 6 tháng vừa qua bên cạnh việc môi trường đầu tư kinh doanh có nhiều chuyển biến rõ nét, thời gian qua, cộng đồng doanh nghiệp Hải Dương đã tích cực tham gia phong trào "Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển". Rất nhiều doanh nghiệp không ngừng thi đua sản xuất, sáng tạo, chủ động hội nhập, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương,  các doanh nghiệp lớn trong địa bàn tỉnh vẫn duy trì được lượng sản xuất ổn định.

3.2. Chỉ số tiêu thụ

Chỉ số tiêu thụ tháng 5 năm 2018 so với tháng trước tăng 3,10%, tăng 10,4% so với cùng kỳ; tính chung 5 tháng đầu năm tăng 8,9%. Trong đó nhiều ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao và khá cao như: sản xuất trang phục tăng 21,4%; sản xuất da và các sản phẩm da có liên quan tăng 21,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 42,5%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 22,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 33,4%; sản xuất kim loại tăng 8,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 17,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,0%; sản xuất thiết bị điện tăng 25,6%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 15,3%.

3.3. Chỉ số tồn kho

So với cùng kỳ, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/6/2018 giảm 2,2%. Các ngành có chỉ số tồn kho giảm hoặc tăng rất thấp, đó là: sản xuất da và các sản phẩm da có liên quan giảm 6,9%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ giảm 27,0%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 48,1%; sản xuất thiết bị điện giảm 24,8%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 35,5%...

Các ngành có chỉ số tồn kho tăng là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,7%; sản xuất trang phục tăng 28,0%; sản xuất than cốc và dầu mỏ tinh chế tăng 144,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 88,2%; sản xuất kim loại tăng 15,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 12,4%...

3.4. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2018 tăng 3,3% so với cùng kỳ, tính chung 6 tháng đầu năm tăng 3,8%. Các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng: sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 11,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 27,7%, sản xuất xe có động cơ tăng 13,7%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 18,3%...

Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh Hải Dương tuy còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại nhưng cũng đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận; đây sẽ là bước tạo đà vững chắc để trong thời gian tới ngành công nghiệp của tỉnh có thể tiếp tục vượt qua khó khăn, không ngừng mở rộng và phát triển.

4. Tình hình phát triển doanh nghiệp

Ước 6 tháng đầu năm cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 750 doanh nghiệp với tổng số vốn điều lệ đăng ký là 4.960 tỷ đồng (bằng cùng kỳ 2017 về số doanh nghiệp và tăng 38,5% về số vốn so với cùng kỳ năm 2017; lũy kế đến 28/5/2018 toàn tỉnh có: 11.949 DN; vốn đăng ký là: 134.901 tỷ đồng); giải thể 95 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc; tạm ngừng 214 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc. Tiếp tục thực hiện kế hoạch cổ phần hóa các doanh nghiệp, xử lý những vướng mắc và cơ bản hoàn thành các thủ tục cổ phần hóa 2 đơn vị ngành giao thông vận tải; triển khai cổ phần hóa Công ty TNHH một thành viên giống gia súc tỉnh; tiếp tục thực hiện các thủ tục thoái vốn nhà nước tại 5 doanh nghiệp đã cổ phần hóa theo kế hoạch đã phê duyệt. Tổ chức Hội nghị gặp mặt đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của các doanh nghiệp.

5. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5 đạt 125 tỷ đồng, tăng 28,2% so với tháng trước.

Ước tháng 6, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 157,0 tỷ đồng, tăng 25,6% so với tháng trước; trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 78,6 tỷ đồng, tăng 20,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 68,2 tỷ đồng, tăng 32,5%; vốn ngân sách cấp xã đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 21,0% so với tháng trước.

Ước 6 tháng đầu năm 2018, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 520,6 tỷ đồng, giảm 19,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 284,5 tỷ đồng, giảm 34,5%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 191,9 tỷ đồng, tăng 11,7%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 44,2 tỷ đồng, tăng 7,9%.

Nguồn vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh, 6 tháng đầu năm ước đạt 16.664 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn nhà nước trên địa bàn đạt 1.960 tỷ đồng, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước đạt 10.757 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 3.947 tỷ đồng, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước.

Về thu hút đầu tư trong nước, Đã quyết định chủ trương đầu tư cho 66 dự án đầu tư với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt 3.750,6 tỷ đồng (tăng trên 80% so với cùng kỳ 2017). Tiếp tục rà soát, kiểm tra, xử lý đối với các dự án chậm triển khai, đã chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy Chứng nhận đầu tư/Văn bản chấp thuận đầu tư của 10 dự án.

Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, trên địa bàn tỉnh hiện có 376 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng vốn 7.501 triệu USD. Tổng lũy kế vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp FDI ước đạt 4.400 triệu USD. Thu hút trên 170.000 lao động trực tiếp tại các Doanh nghiệp cùng hàng nghìn lao động gián tiếp khác.

Trong 6 tháng đầu năm, thu hút đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh đạt 265,4 triệu USD tăng 74,6% so với cùng kỳ 2017 (152 triệu USD); trong đó, cấp mới cho 14 dự án với số vốn đăng ký 40,5 triệu USD (10 dự án ngoài KCN, với số vốn 31,4 triệu USD; 04 dự án trong KCN với số vốn 9,1 triệu USD); điều chỉnh tăng vốn đầu tư cho 14 lượt dự án với số vốn tăng thêm 224,9 triệu USD (02 dự án ngoài KCN 23 triệu USD, 12 dự án trong KCN, với số vốn tăng 201,9 triệu USD), tăng gần 3 lần so với cùng kỳ 2017.

Trong 6 tháng đầu năm nhiều dự án tăng vốn lớn như như: Công ty TNHH Kefico tăng thêm 120 triệu USD; Chi nhánh Công ty TNHH khí công nghiệp Messer Hải Phòng tăng 22,8 triệu USD, Dự án may Tinh Lợi tăng 49,2 triệu USD, Công ty TNHH Best Facific tăng thêm 20 triệu USD.

Các dự án đầu tư nước ngoài thuộc các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 93,8%; xây dựng 4,9%; dịch vụ 0,6%; nông nghiệp 0,7% tổng vốn đầu tư. Có 8 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại địa bàn; trong đó, Hồng Kông đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư là 12,3 triệu USD (03 dự án) chiếm 30,3%; BritishVirginIslands đứng thứ hai với số vốn 9,9 triệu USD (01 dự án), chiếm 24,4%; Hoa Kỳ đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký là 7 triệu USD (01 dự án) chiếm 17,3%; tiếp sau là Hàn Quốc; Thái Lan; Trung Quốc, Vương quốc Anh, Ấn Độ.

Các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư từ trước hầu hết đã nhanh chóng hoàn thiện thủ tục triển khai đầu tư và đưa dự án vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong 6 tháng đầu năm có 9 dự án đã hoàn thành đầu tư và đưa dự án vào hoạt động sản xuất kinh doanh; 13 dự án đã hoàn thiện thủ tục và đang triển khai đầu tư (trong đó 01 dự án chấp thuận năm 2011, 03 dự án chấp thuận năm 2016, 04 dự án chấp thuận năm 2017, 05 dự án chấp thuận năm 2018); 05 dự án chưa hoàn thành và đang hoàn thiện thủ tục đất đai, cấp phép xây dựng... để triển khai đầu tư (trong đó 01 dự án cấp từ 2015 trở về trước, 02 dự án chấp thuận năm 2017, 02 dự án chấp thuận năm 2018).

Các cơ quan quản lý nhà nước đã quyết định thu hồi giấy phép đầu tư của 04 dự án FDI do nhà đầu tư không tiếp tục triển khai với tổng vốn 19 triệu USD.

Tiếp tục hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh và đổi mới công tác vận động, xúc tiến đầu tư. Tập trung thực hiện Kế hoạch xúc tiến đầu tư đã đề ra. Chú trọng công tác vận động xúc tiến đầu tư theo hướng trọng điểm, tăng cường xúc tiến đầu tư đối với các tập đoàn lớn, đa quốc gia; đồng thời xây dựng kế hoạch xúc tiến cụ thể, phối hợp tham gia xúc tiến cùng các bộ ngành trung ương.

Coi trọng công tác xúc tiến tại chỗ, tăng cường hỗ trợ cho các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư triển khai thuận lợi, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc kịp thời cho các nhà đầu tư, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư. Từ đó thông qua các nhà đầu tư tuyên truyền môi trường đầu tư tại địa phương.

Chủ động tiếp cận và tranh thủ thu hút đầu tư các các tập đoàn lớn của Nhật Bản, Hoa Kỳ và các nước Châu Âu...

Quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp, tạo dựng và củng cố lòng tin để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm sản xuất kinh doanh tại Hải Dương.

Tập trung thúc đẩy nhanh việc giải ngân vốn đăng ký của các dự án đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng…. Tổng rà soát các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, đặc biệt chú trọng các dự án đang triển khai, các dự án có quy mô lớn như Nhà máy Nhiệt Điện BOT Hải Dương (được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận ngày bắt đầu 01/12/2016); Dự án may công nghệ cao của Tập đoàn Young One (Hàn Quốc); Bệnh Viện Quốc tế Đại An,..... Các sở ngành cùng phối hợp giám sát và thúc đẩy các dự án theo đúng tiến độ đề ra. Đồng thời kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm. 

Tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư nước ngoài đối với các dự án FDI theo quy định tại Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2016 của Chính phủ và Thông tư số 09/2016/TT-BKHĐT ngày 30/6/2016 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Tiếp tục phối hợp với các Sở, ngành và đơn vị trong công tác thanh, kiểm tra đối với các doanh nghiệp. Đôn đốc các dự án thực hiện chế độ báo cáo tình hình thực hiện dự án trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài.

Trước tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trong nước, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cũng như các thành phần kinh tế còn gặp rất nhiều khó khăn, để thúc đẩy nhanh nguồn vốn đầu tư phát triển, đòi hỏi Chính phủ cần tăng cường nhưng biện pháp hữu hiệu, đồng bộ cùng với sự quan tâm của chính quyền địa phương để tất cả nguồn vốn được đầu tư đúng mục tiêu và mang lại hiệu quả cao, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

6. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm, ước đạt 7.467 tỷ đồng, bằng 51,4% dự toán năm và bằng 106,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, thu nội địa 6.236 tỷ đồng, bằng 55% dự toán năm và bằng 112,9% so với cùng kỳ năm trước, thu qua hải quan 1.196 tỷ đồng, bằng 37,4% dự toán năm và bằng 84% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm, ước đạt 7.385 tỷ đồng, bằng 72,8% dự toán năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 865 tỷ đồng, bằng 58,5%, chi thường xuyên 6.520 tỷ đồng, bằng 77,3%.

7. Hoạt động tài chính, ngân hàng

Các tổ chức tính dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm các quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; mở rộng tín dụng có hiệu quả, tập trung vốn cho các chương trình tín dụng ưu tiên, tín dụng chính sách; đẩy mạnh cải cách thủ tục cho vay, minh bạch hóa thông tin tín dụng. Tổng nguồn vốn huy động 95.100 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2017 và tăng 9,0% so với cuối năm 2017; tổng dư nợ 68.600 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2017 và tăng 5,1% so với cuối năm 2017. Nợ xấu được kiểm soát tốt, tính đến tháng 6 năm 2018 chiếm khoảng 1,5% tổng dư nợ.

8. Thương mại, giá cả, dịch vụ

8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 6 năm 2018 ước đạt 3.580,1 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,2%; tính chung 6 tháng đầu năm ước đạt 21.013,3 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế, 6 tháng đầu năm kinh tế cá thể đạt 13.173,9 tỷ đồng, chiếm 62,7% và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 7.431,4 tỷ đồng, chiếm 35,4% và tăng 14,5%; các khu vực kinh tế còn lại (tập thể và FDI) chiếm 1,9%.

Trong 6 tháng đầu năm, thị trường trong tỉnh duy trì sự ổn định, hàng hóa dịch vụ phong phú, đa dạng; cân đối cung - cầu được bảo đảm; giá cả các nhóm hàng hóa thiết yếu không có tăng giảm đột biến, không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa và sốt giá trên thị trường.

Công tác thông tin, xúc tiến thương mại được quan tâm thực hiện. Tổ chức tốt Lễ hội vải thiều Thanh Hà - Hải Dương năm 2018, ký kết hợp đồng tiêu thụ vải thiều với một số địa phương, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; tham gia  các hội chợ triển lãm trong nước, hội chợ Thương mại Quốc tế Việt Nam - Viet Nam Expo Hà Nội, hội chợ OCOP khu vực phía Bắc - Quảng Ninh. Vận động, hỗ trợ các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia quảng bá, giới thiệu sản phẩm tại các hội chợ

Công tác quản lý thị trường được tăng cường, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm được phát hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra nhằm bảo vệ quyền lợi của cả nhà sản xuất và người tiêu dùng, góp phần bình ổn thị trường

8.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 6 ước đạt 767,4 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm ước đạt 4.198,2 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 2.831,1 tỷ đồng, chiếm 67,4% và tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.070 tỷ đồng, chiếm 25,5% và tăng 8,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,0% và tăng 6,5% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 148,0 tỷ đồng, chiếm 3,5% trong tổng số và tăng 9,1% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 1.652,5 tỷ đồng, chiếm 39,4% và tăng 7,8%; dịch vụ khác đạt 2.376,4 tỷ đồng, chiếm 56,6%, tăng 7,8% so với cùng kỳ.  

8.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải  tháng 6 năm 2018 ước đạt 679,3 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,9%; trong đó, vận tải hành khách đạt 122,0 tỷ đồng, tăng 2,2%; vận tải hàng hoá đạt 509,6 tỷ đồng tăng 1,6%.

Doanh thu  6 tháng đầu năm 2018 đạt 3.883 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vận tải hành khách đạt 711,8 tỷ đồng, tăng 11,6%; vận tải hàng hoá đạt 2.906,1 tỷ đồng, tăng 10,5%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 265,1 tỷ đồng, tăng 9,3%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 6 năm 2018 ước đạt 2,2 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 0,9%, so với cùng kỳ tăng 11,5%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 127,7 triệu hành khách.km, tăng 0,9% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển đạt 13,1 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 11,5%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 769,4 triệu hành khách.km, tăng 11,0% so với cùng kỳ.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 6 ước đạt 6,1 triệu tấn, so với tháng trước giảm 1,1%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 427,2 triệu tấn.km, tăng 1,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 36,1 triệu tấn, tăng 10,2% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 2.500,3 triệu tấn.km, tăng 9,3% so với cùng kỳ.

8.4. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 0,5% so với tháng trước; tăng 2,36% so với tháng 12 năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm tăng 2,34% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Giá một số mặt hàng tiêu dùng tiếp tục tăng, chủ yếu là thịt lợn, điện, ga đun; tuy nhiên, có một số nhóm hàng có xu hướng giảm như: lương thực do đã vào vụ, năng suất lúa đạt cao; thời tiết thuận lợi cho cây trồng phát triển và một số loại rau vào chính vụ nên giá giảm; nên CPI đã tăng chậm lại (so với tháng trước).

         II. Một số vấn đề xã hội

1. Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, thể thao chào mừng các ngày lễ lớn, mừng Đảng, mừng xuân, đặc biệt là Lễ hội mùa xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc năm 2018; phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và chương trình Tết sum vầy 2018. Các hoạt động được tổ chức đều bảo đảm tốt an ninh trật tự, an toàn, tiết kiệm, bảo đảm môi trường văn hoá lành mạnh gắn với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá.

Thực hiện tốt công tác quản lý văn hoá trên địa bàn, đã tiến hành kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa tại các điểm di tích, cơ sở tín ngưỡng. Tổ chức chương trình giáo dục di sản văn hóa trong nhà trường tại di tích đền thờ nhà giáo Chu Văn An, di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc; tổ chức kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể năm 2018 tại 6 huyện; hướng dẫn thực hiện áp dụng thử nghiệm Bộ tiêu chí bảo vệ môi trường tại các di tích. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng, khu dân cư văn hoá tiếp tục được duy trì và phát triển ngay từ đầu năm, đến nay có 95% cơ quan, trường học đăng ký cơ quan, đơn vị văn hoá... Tổ chức tốt lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và tuyên dương các gương điển hình tiên tiến.

Thể thao; Phong trào thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao tiếp tục đạt được kết quả tốt. Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Hải Dương lần thứ VIII và các môn thi đấu trong kế hoạch đại hội.

Đội bóng đá học sinh tiểu học Hải Dương đã giành quyền vào vòng chung kết Giải bóng đá Hội khỏe Phù Đổng học sinh tiểu học và THCS toàn quốc Cúp Milo lần thứ XVI năm 2018.

Chiều 16/6, đã diễn ra buổi thi đấu tại bể bơi Yết Kiêu (TP Hải Dương), đây là môn thi đấu thứ 12 trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ VIII. 7 đoàn tham dự giải gồm: TP Hải Dương, thị xã Chí Linh; các huyện: Ninh Giang, Cẩm Giàng, Thanh Hà, Kinh Môn và Nam Sách.

2. Y tế

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thực hiện; chủ động triển khai các biện pháp y tế dự phòng, không để dịch bệnh nguy hiểm xảy ra trên diện rộng; hoạt động khám, chữa bệnh có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng, tiếp tục ứng dụng những kỹ thuật mới, kỹ thuật cao của tuyến trung ương đối với bệnh viện tuyến tỉnh. Duy trì tốt kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về y tế.

Tiếp tục thực hiện tốt Đề án xây dựng Tiêu chí quốc gia về Y tế xã, đến nay toàn tỉnh có 230/265 (đạt 86,6%) xã đạt tiêu chí quốc gia về Y tế, dự kiến hết năm toàn tỉnh 2018 đạt trên 90%.

Công tác thanh tra kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường. trong 5 tháng đầu năm xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm, không có trường hợp tử vong.

Công tác truyền thông dân số được đẩy mạnh, thực hiện nhiều biện pháp khống chế mất cân bằng giới tính khi sinh, tuy nhiên tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên và tỷ số giới tính khi sinh chưa có chuyển biến tích cực.

3. Giáo dục

Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 29/TW, Kế hoạch hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình hành động số 53/TU của Tỉnh ủy về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2017-2018. Hoàn thành việc tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2018-2019. Phối hợp chuẩn bị cho kỳ thi PTTH quốc gia năm 2018. Công tác phổ cập giáo dục được các cấp, các ngành và Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục, xoá mù chữ của tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện. 100% xã, phường, thị trấn và các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành việc tự kiểm tra theo đúng kế hoạch. Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm 2018, Hải Dương có 65/98 học sinh dự thi đạt giải, đạt tỷ lệ 66,3%, với 2 giải Nhất, 10 giải Nhì, 26 giải Ba và 27 giải Khuyến khích; có 01 học sinh được tham dự Olympic Quốc tế môn Sinh học tại Iran.

Công tác phân luồng học sinh có những chuyển biến tích cực, việc định hướng, chọn lựa nghề nghiệp của học sinh ngày càng gắn với thực tế. Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm đầu tư hơn và đạt kết quả tốt.

Hoàn thành việc sáp nhập Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề, Trung tâm dạy nghề. Các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên đã ổn định và tiếp tục hoạt động theo Kế hoạch. Tiếp tục triển khai xây dựng đề án thu gọn đầu mối các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh.

4. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội

Giải quyết việc làm; trong 6 tháng đầu năm ước giải quyết việc làm mới cho 18.163 lao động, đạt tỷ lệ 104,8% so với cùng kỳ năm 2017. Thị trường lao động tiếp tục được củng cố và phát triển, đã tổ chức 19 phiên giao dịch việc làm, tổ chức giới thiệu việc làm cho 4.296 người lao động, đạt tỷ lệ 204,2% so với cùng kỳ 2017. Phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay 18.201 triệu đồng, thu hút 398 dự án, hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho 347 lao động, đạt 150,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Tiếp tục triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016-2020”, đã tuyển mới được 14.565 người (cao đẳng 41 người; trung cấp 75 người và đào tạo thường xuyên dưới 3 tháng cho 12.155 người), trong đó lao động nông thôn được đào tạo nghề là 840 người.

An sinh xã hội; tính đến hết tháng 6 năm 2018, số lao động tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn toàn tỉnh ước đạt 300.000 người (tăng 1,1% so với cùng kỳ 2017); BHXH tự nguyện ước đạt 9.500 người (tăng 1,3% so với cùng kỳ 2017).

Tập trung triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công và thân nhân người có công với cách mạng; triển khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo, bảo trợ xã hội, trẻ em, bình đẳng giới và phòng chống tệ nạn xã hội góp phần quan trọng bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục thực hiện tốt việc tiếp nhận, nuôi dưỡng, dạy chữ, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Tổ chức đi thăm và tặng quà cho các gia đình chính sách, người có công và người cao tuổi tiêu biểu, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi, trẻ em vùng sâu, vùng xa và một số đơn vị trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất. Tích cực vận động, huy động các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hỗ trợ cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn nhân dịp tết nguyên đán 2018. Triển khai xây dựng Đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

5. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Công tác quản lý đất đai đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện. Các cấp, các ngành, các địa phương đã tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; tiếp tục xử lý đất lấn chiếm, cấp đất trái thẩm quyền, đất xen kẹp, dôi dư. Đẩy mạnh việc đấu giá đất tại các khu dân cư, tính tiền sử dụng đất đối với một số dự án khu đô thị, khu dân cư. Rà soát, kiểm tra, đôn đốc tình hình sử dụng đất của các dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Tăng cường công tác quản lý khoáng sản và tài nguyên nước; các địa phương đã tăng cường chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các trường hợp khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép. Đôn đốc các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về khoáng sản, đất đai, môi trường.

Kiểm soát chặt chẽ các nguồn ô nhiễm, nhất là khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tập trung xử lý triệt để đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh và di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu vực đông dân cư. Đôn đốc các cơ sở lắp đặt và vận hành các trạm quan trắc môi trường tự động. Đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị trong tỉnh thực hiện Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Trong 6 tháng đầu năm, cơ quan chức năng đã phát hiện 192 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 192 vụ với tổng số tiền phạt 1.868 triệu đồng.

6. Trật tự an toàn xã hội

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước về thăm, làm việc và đi qua địa bàn tỉnh, các mục tiêu trọng điểm và các sự kiện chính trị quan trọng… Tổ chức cao điểm tấn công, trấn áp, truy nã tội phạm bảo vệ an ninh trật tự theo chuyên đề, tuyến, địa bàn; điều tra khám phá các vụ phạm pháp hình sự, các tội phạm liên quan đến tệ nạn xã hội.

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng 6, trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 9 triệu đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 23 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 2.497 triệu đồng.

Về  tai nạn giao thông; tháng 5/2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm chết 16 người, bị thương 12 người. Năm tháng đầu năm 2018 xảy ra 97 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 95 người và bị thương 57 người; so với cùng kỳ năm 2017, tai nạn giao thông tăng 43 vụ (+79,6%), tăng 41 người chết (+75,9%) và tăng 3 người bị thương (5,6%).

*

*        *

Khái quát lại; kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 6 tháng vừa qua đã có những chuyển biến theo hướng tích cực. Kinh tế có bước tăng trưởng khá cao, thu ngân sách tăng khá, thu hút đầu tư đạt kết quả khá so với cùng kỳ. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hóa - xã hội, thể dục - thể thao có nhiều tiến bộ, cải cách hành chính tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, thực hiện. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ổn định, công tác quốc phòng quân sự địa phương tiếp tục được củng cố, tăng cường. Tiếp tục thực hiện việc sắp xếp tinh gọn bộ máy và tinh giảm biên chế các cơ quan nhà nước; sắp xếp nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là những kết quả quan trọng tạo điều kiện cho việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 đã đề ra./.


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2018 (01/10/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2018 (01/09/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2018 (28/07/2018)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2018 (28/05/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2018 (28/04/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 năm 2018 (28/03/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2018 (28/02/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018 (29/01/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay244 
 Hôm qua148
 Tuần này877 
 Tất cả370245 
IP: 3.80.218.53