Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2018
Cập nhật: 04/08/2018 05:13:25 PM
Năm 2018 là năm bản lề của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, là năm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo đà để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm.
 

         I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng 5 là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng vụ chiêm xuân, đặc biệt bệnh đạo ôn cổ bông, lùn sọc đen và vàng lụi, khô vằn, rầy nâu cho cây lúa; bệnh thán thư, sương mai, sâu đục cuống quả vải; đồng thời thu hoạch rau màu vụ chiêm xuân 2018.

 Đến ngày 15/5 cơ bản diện tích lúa chiêm xuân trỗ thoát, trà sớm đang vào trắc dự kiến cho thu hoạch vào đầu tháng 6. Năng suất lúa vụ chiêm xuân năm 2018 ước đạt 64 tạ/ha, giảm 1,7 % (-1,1 tạ/ha) so với vụ chiêm xuân 2017; sản lượng đạt 374.179 tấn, giảm 3,2 % (-12.334 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất ước giảm so với cùng kỳ năm trước là do diễn biến thời tiết năm nay không thuận cho trà lúa sớm, ít mưa, nhất là mưa rào trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển nên cây lúa sinh trưởng và phát triển kém, bình quân số nhánh trong các khóm ít hơn cùng kỳ, thời tiết ấm nóng đã rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa nên chiều cao cây, chiều dài bông không đạt tiềm năng như các năm trước.

Năng suất ngô ước đạt 60 tạ/ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến thời tiết tương đối thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng và phát triền, đồng thời do bà con nông dân lựa chọn các giống ngô tẻ cho năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn như giống: LVN10, NK6654, NK6326, VS36, PAC339.

Năng suất rau các loại ước tính đạt 240 tạ/ha, tăng 5%, sản lượng đạt 41.085 tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2017. Mặc dù, thời tiết nóng ấm không thuận lợi cho lúa trà sớm sinh trưởng và phát triển nhưng thời tiết nóng ấm lại thuận lợi đối với một số cây rau màu chủ yếu của tỉnh như: dưa lê, dưa hấu, dưa chuột, bí xanh, bắp cải, cà chua, su hào, tỏi tây,... Một số loại rau có năng suất tăng nhiều như: dưa lê (+ 55,68 tạ/ha), cà chua (+9,54 tạ/ha), bắp cải (+15,03 tạ/ha), dưa hấu (+23,37 tạ/ha),...Tuy nhiên, một số cây rau màu khác của tỉnh có khả năng cho năng suất thấp hơn cùng kỳ năm 2017 như: bí ngô (-13,65 tạ/ha);cà rốt (-1,94 tạ/ha); tỏi tươi các loại (-1,11 tạ/ha); hành củ tươi (-6,77 tạ/ha)...

Tổng diện tích trồng cây lâu năm toàn tỉnh ước đạt 21.610 ha, giảm 0,4% (-96 ha) so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, diện tích trồng cây ăn quả ước đạt 21.089 ha, chiếm 97,6%; diện tích cây gia vị, dược liệu ước đạt 180 ha, chiếm 0,8%; diện tích cây lâu năm khác ước đạt 202 ha, chiếm 0,9%, các cây lâu năm còn lại là cây lấy dầu và cây chè búp chiếm tỷ trọng nhỏ.

Cây ăn quả giảm 0,1% (-28 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Cây vải là cây lâu năm trọng điểm của tỉnh, diện tích cây vải ước đạt 10.202 ha, giảm 2,5% (- 257 ha) so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 48,4% diện tích cây ăn quả, chiếm 47,2% tổng diện tích cây lâu năm hiện có của tỉnh.

Sản lượng vải ước đạt 56.720 tấn, so với năm 2017 tăng 95,0% (+27.627 tấn). Năm 2018, năng suất vải thiều ước đạt cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Nguyên nhân do thời tiết diễn biến khá thuận lợi cho cây vải sinh trưởng và phát triển, đầu năm 2018 xuất hiện 3 đợt rét đậm thuận lợi cho cây vải phân hóa mầm hoa nên tỷ lệ ra hoa, đậu quả cao. Sản lượng một số cây ăn quả chính của tỉnh đều tăng so với cùng kỳ năm 2017 như: sản lượng xoài ước đạt 1.415 tấn, tăng 5,0% so với cùng kỳ; sản lượng chuối ước đạt  28.956 tấn, tăng  6,4% so với cùng kỳ; ổi sản lượng ước đạt 22.200 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ và cây ăn quả khác nhìn chung đều cho sản lượng  cao hơn so với cùng kỳ.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 5 năm 2018, không có dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Các ngành chức năng của tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi; tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi phương pháp chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên đàn vật nuôi; thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng trại, kết hợp tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin. Tuy nhiên, tình hình chăn nuôi trong tỉnh gặp nhiều khó khăn. Hiệu quả chăn nuôi đạt thấp, nhất là chăn nuôi lợn giảm mạnh do giá bán thịt lợn hơi tuy có tăng nhưng vẫn ở mức thấp.

Tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.113 con,  giảm 2,6%; Đàn bò ước đạt 21.040 con, tăng 3,2%  so với cùng kỳ năm trước.

Đàn lợn thịt của toàn tỉnh ước đạt 448 nghìn con, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước.

Đàn gia cầm ước đạt 11.942 nghìn con, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số đàn gia cầm, gà là loại vật nuôi chủ yếu trong nhóm gia cầm, đàn gà đạt 8.789 nghìn con, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm trên 70% tổng đàn gia cầm. Trong tháng 5 trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra, cùng với giá thức ăn chăn nuôi giảm, hiệu quả chăn nuôi gà đạt khá, người chăn nuôi có lãi nên nhiều hộ chăn nuôi mạnh đầu tư mở rộng quy mô nuôi nhằm đáp ứng thị trường tiêu thụ nhất là loại hình trang trại và gia trại. Mặt khác do hiệu quả chăn nuôi lợn giảm mạnh nên nhiều hộ trang trại, gia trại chuyển sang nuôi gà để bù đắp chi phí thua lỗ trong nuôi lợn và duy trì quy mô chuồng trại đã xây dựng.

1.3. Thuỷ sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản trong tháng 5 vẫn duy trì ổn định và phát triển khá. Hiệu quả nuôi trồng thủy sản khá ổn định, giá bán sản phẩm đầu ra tương đối ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, giá thức ăn có xu hướng giảm nhẹ, nên diện tích nuôi trồng sau khi thu hoạch xong các hộ tập trung tu sửa, nạo vét ao nuôi và thả giống nuôi vụ mới. Trong tháng thời tiết ấm, có mưa rào đầu mùa là điều kiện tốt cho sinh trưởng và phát triển của cá; vì vậy, việc thu hoạch cá thương phẩm và thả giống nuôi vụ mới không gặp khó khăn. Việc nuôi cá lồng trên sông vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển, với các chủng loại gống đa dạng như Diêu hồng, Rô phi đơn tính, Trắm cỏ, Cá chép nuôi giòn, cá Lăng... Số lồng nuôi cơ bản thu hoạch xong cá thương phẩm, các hộ đã thả giống nuôi vụ mới, đến nay các lồng nuôi đã cơ bản thả đủ lượng giống, cá sinh trưởng và phát triển tốt. Trong tháng, một số diện tích nuôi cá trắm cỏ bị bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh 30%; tuy nhiên, được sự quan tâm của các ngành, các cơ quan chức năng đến nay bệnh đã được khống chế kịp thời.

2. Sản xuất công nghiệp

Bước sang tháng 5 tình hình sản xuất của ngành công nghiệp tỉnh Hải Dương có phần chậm lại do một số ngành sản xuất chủ lực của tỉnh có sản lượng giảm tăng thấp đã làm cho sản xuất công nghiệp tháng 5 tăng trưởng chậm lại.

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng này nhìn chung không có nhiều biến động, ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 0,2%; đa số các ngành sản xuất ổn định, ngoại trừ một số ngành có lượng sản xuất giảm như: khai khoáng giảm 18,0%; sản xuất và phân phối điện giảm 6,6%.

So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 năm 2018 tăng 7,4%; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,7%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 8,7%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 3,0%; khai khoáng giảm mạnh (39,9%).

Một số ngành có lượng sản xuất tăng cao và khá cao như: sản xuất trang phục tăng 22,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 24,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 17,5%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 10,4%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 23,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 20,6%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 19,1%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 18,9%...

Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,1%; trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,3%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 10,6%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 12,2%. Đóng góp chính vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành chủ yếu là các ngành như: sản xuất trang phục tăng 24,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,1%; sản xuất cao su và plastic tăng 33,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 18,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 25,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 25,8%; ...

Đối với 2 ngành sản xuất trang phục, giầy dép với lợi thế nhân công giá rẻ và một loạt FTAs mới được kí kết được kỳ vọng sẽ tạo cú huých để 2 ngành này tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong những tháng tiếp theo, dự báo ngành dệt may cũng sẽ gặp nhiều thách thức lớn, tính cạnh tranh cao. Để vượt qua được thách thức trên, các doanh nghiệp trong ngành cần phải có chiến lược cụ thể nhằm tận dụng tối đa cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để nâng cao tính cạnh tranh, tạo sự đột phá, khác biệt so với những năm trước.

Bên cạnh đó, các ngành sản xuất sản phẩm điện tử, sản xuất thiết bị điện, với sự tăng trưởng mạnh của khu vực FDI trong ngành đã tác động rất lớn đến tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Các sản phẩm chủ lực của ngành có mức tăng trưởng cao như: mạch điện tử tích hợp tăng 25,4%; bộ phận của các linh kiện điện tử khác chưa được phân vào đâu tăng 46,8%; máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, coppy... tăng 19,1%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 24,6%; dây dẫn điện dùng cho hiệu điện thế <=1000V tăng 27,0%...

Tương tự, đối với ngành sản xuất và phân phối điện, hiện nay doanh nghiệp sản xuất nhiệt điện của tỉnh đã tham gia thị trường điện tự do, thêm vào đó nhu cầu về điện sản xuất và điện tiêu dùng đều tăng đã làm sản lượng điện sản xuất dự ước tăng 11,0%, điện thương phẩm tăng 7,2%.

Ngoài ra, một số sản phẩm quan trọng khác cũng có lượng sản xuất tăng đó là: bao bì đóng gói khác bằng plastic tăng 30,9%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 34,3%; máy khâu loại khác, trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình tăng 14,8%; ...

Một số ngành sản xuất quan trọng khác như sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất xi măng, sản xuất xe có động cơ do nhu cầu thị trường tiêu thụ giảm, thiếu nguyên liệu và những quy định mới về chính sách, pháp luật nên có lượng sản xuất giảm với các sản phẩm như: thức ăn cho gia súc giảm 8,6%; clanhke xi măng giảm 12,0%; xi măng portland đen giảm 3,2%; xe có động cơ chở được từ 5 người trở lên chưa được phân vào đâu giảm 16,6%.

Ngành sản xuất than cốc, sản xuất sắt thép chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh, tuy vẫn có lượng sản xuất tăng nhưng tăng không cao như những năm trước, cụ thể than cốc và bán cốc luyện từ than đá tăng 2,7%; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công tăng 2,2%; thép hợp kim cán mỏng có chiều rộng < 600mm đã được dát, phủ, mạ hoặc tráng tăng 11,0%. Nguyên nhân một phần là do khu liên hợp gang thép Hòa Phát dừng lò cao số 2 và một số hạng mục liên quan khác thuộc giai đoạn 2 từ cuối tháng 3/2018 đến hết tháng 5/2018 để trùng tu, sửa chữa đã làm giảm sản lượng thép sản xuất.

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4 năm 2018 đạt 97,5 tỷ đồng, giảm 17,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 55,8 tỷ đồng, đạt 8,6% so với kế hoạch năm, giảm 30,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã đạt 41,7 tỷ đồng, đạt 4,2% so với kế hoạch năm, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tháng 5 năm 2018, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 123,7 tỷ đồng, giảm 15,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 64,8 tỷ đồng, giảm 31,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã đạt 58,9 tỷ đồng, tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước.

Ước 5 tháng đầu năm 2018, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 362,3 tỷ đồng, giảm 22,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 205,6 tỷ đồng, giảm 36,2%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 122,8 tỷ đồng, tăng 9,5%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 33,9 tỷ đồng, tăng 9,6%.

Năm tháng đầu năm, có 12 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép mới với số vốn đăng ký 38,5 triệu USD. Tháng 4 năm 2018 có 02 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó có 01dự án thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo, 01 dự án của dịch vụ lưu trú và ăn uống.

Trước tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trong nước, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cũng như các thành phần kinh tế còn gặp rất nhiều khó khăn, để thúc đẩy nhanh nguồn vốn đầu tư phát triển, đòi hỏi Chính phủ cần tăng cường nhưng biện pháp hữu hiệu, đồng bộ cùng với sự quan tâm của chính quyền địa phương để tất cả nguồn vốn được đầu tư đúng mục tiêu và mang lại hiệu quả cao, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến hết tháng 5 năm 2018 ước đạt 4.697 tỷ đồng, bằng 32,3% dự toán năm và bằng 79,4% cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa 3.980 tỷ đồng, bằng 35,1% dự toán năm và bằng 84,0% cùng kỳ năm trước; thu qua hải quan 716 tỷ đồng, bằng 22,4% dự toán năm và bằng 61,0% cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15 tháng 5 ước đạt 5.469 tỷ đồng, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước; trong đó, chi thường xuyên 4.113 tỷ đồng, bằng 90,7% cùng kỳ năm trước.

5. Thương mại, giá cả, dịch vụ

5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 5 năm 2018 ước đạt 3.530,3 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,0%; tính chung 5 tháng đầu năm ước đạt 17.427,0 tỷ đồng, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế, 5 tháng đầu năm kinh tế cá thể đạt 10.916,0 tỷ đồng, chiếm 62,6% và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 6.172,6 tỷ đồng, chiếm 35,4% và tăng 11,7%; các khu vực kinh tế còn lại (tập thể và FDI) chiếm 2,0%.

5.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 5 ước đạt 726,2 tỷ đồng, giảm 0,5% so với tháng trước.

Tính chung 5 tháng đầu năm ước đạt 6.607,9 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 2.355,0 tỷ đồng, chiếm 65,3% và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.005,0 tỷ đồng, chiếm 27,9% và tăng 13,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 4,9% và tăng 23,9% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 123,3 tỷ đồng, chiếm 3,4% trong tổng số và tăng 17,8% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 1.383,1 tỷ đồng, chiếm 38,3% và tăng 11,2%; dịch vụ khác đạt 2.083,8 tỷ đồng, chiếm 57,8%, tăng 15,8% so với cùng kỳ.  

5.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải  tháng 5 năm 2018 ước đạt 665,1 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 2,6%; trong đó, vận tải hành khách đạt 117,2 tỷ đồng, tăng 1,6%; vận tải hàng hoá đạt 501,0 tỷ đồng tăng 2,8%.

Doanh thu  5 tháng đầu năm 2018 đạt 3.202,1 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vận tải hành khách đạt 587,6 tỷ đồng, tăng 11,4%; vận tải hàng hoá đạt 2.396,1 tỷ đồng, tăng 10,5%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 218,4 tỷ đồng, tăng 11,1%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 5 năm 2018 ước đạt 2,2 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 0,5%, so với cùng kỳ tăng 11,0%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 125,8 triệu hành khách.km, tăng 0,5% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển đạt 10,9 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 11,0%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 641,1 triệu hành khách.km.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 5 ước đạt 6,1 triệu tấn, so với tháng trước tăng 0,8%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 428,6 triệu tấn.km, tăng 1,1%. Tính chung 5 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 29,9 triệu tấn, tăng 10,4% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 2.081,6 triệu tấn.km, tăng 9,5% so với cùng kỳ.

5.4. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tháng 5 tăng 0,73% so với tháng trước; tăng 4,10% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,84% so với tháng 12 năm trước; bình quân 5 tháng đầu năm tăng 1,85% so với bình quân cùng kỳ.

Nguyên nhân làm cho chỉ số giá tháng này tăng 0,71% (so với tháng trước) chủ yếu là do một số nhóm hàng thiết yếu tăng cao như: nhóm thực phẩm tăng 2,17% chủ yếu do giá lợn hơi tăng mạnh; giá xăng dầu và gas đun đều tăng.

         II. Một số vấn đề xã hội

1. Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Một trong nhiều hoạt động kỷ niệm 128 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2018) từ ngày 16/5-20/5, Đoàn khối Các cơ quan tỉnh tổ chức cho đoàn viên thanh niên của 45 cơ quan, đơn vị trực thuộc tham quan Triển lãm chuyên đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” tại Bảo tàng tỉnh.

Thể thao; Tối 26/4, tại Nhà Thi đấu Thể dục thể thao (TDTT) Hải Dương tưng bừng diễn ra Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VIII năm 2018. Đại hội TDTT tỉnh Hải Dương lần thứ VIII có trên 1.500 vận động viên của 12 huyện, thị xã, thành phố và 2 ngành quân đội, công an tham gia thi đấu 16 môn thể thao truyền thống và thế mạnh, gồm: chạy việt dã, vật dân tộc, điền kinh, bóng bàn, cầu lông, cờ tướng, bóng đá nam 7 người, bóng chuyền nam, võ thuật cổ truyền, đua thuyền chải, bóng chuyền bãi biển, bơi trong bể, Pencak Silat, quần vợt, bóng chuyền hơi và bắn súng hơi.

Ngày 04/5, tại Nhà thi đấu TDTT, BCĐ Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VIII đã tổ chức khai mạc Giải bóng chuyền nam Đại hội TDTT tỉnh năm 2018. Tham gia giải năm nay có 120 VĐV của 10 đơn vị gồm: Bộ CHQS tỉnh, Thanh Miện, Nam Sách, Cẩm Giàng, Chí Linh, Tứ Kỳ, Ninh Giang, TP Hải Dương, Kim Thành, Kinh Môn. Các đội chia làm 03 bảng thi đấu trong 3 ngày từ 04-06/5. Kết quả trận chung kết, đội Kim Thành giành chiến thắng trước  đội Tứ Kỳ với tỷ số 2-1 để giành huy chương vàng.

2. Y tế

So với những ngày cao điểm trong 4 tháng năm 2018 thì từ đầu tháng 5 trở lại đây số bệnh nhân nhi nằm điều trị tại các khoa của Bệnh viện Nhi Hải Dương đã giảm hẳn. Nếu như những ngày trước 30/4 số bệnh nhân nằm điều trị tại bệnh viện thường trên 400, vượt 160% giường kế hoạch, riêng tại khoa Hô hấp là 87 bệnh nhân, vượt 150% giường kế hoạch, khoa Truyền nhiễm là trên 40 bệnh nhân, thì khoảng hơn 1 tuần nay số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện đã giảm (ngày 8/5) còn hơn 280 bệnh nhân, khoa Hô hấp giảm còn 45 bệnh nhân (đạt 80% giường kế hoạch), khoa Truyền nhiễm còn 35 bệnh nhân… Nguyên nhân vào thời điểm này thời tiết bắt đầu ổn định, không còn trong thời điểm giao mùa, khí hậu ấm lên làm cho trẻ nhỏ kịp thích nghi với khí hậu.

3. Giáo dục

Ngày 9/5, tại Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban Chỉ đạo (BCĐ) thi THPT Quốc gia năm 2018 đã tổ chức Họp Ban Chỉ đạo để phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong BCĐ về công tác chuẩn bị, chỉ đạo, tổ chức kỳ thi THPT Quốc gia và thi tuyển sinh THPT năm 2018. Kỳ thi THPT Quốc gia năm nay sẽ diễn ra trong 03 ngày từ ngày 25/6 đến ngày 27/6. Toàn tỉnh chỉ có duy nhất 1 cụm thi do Sở GD&ĐT chủ trì phối hợp với các trường: Đại học Xây dựng, Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương, Đại học Sao Đỏ, Đại học Hải Dương và Cao đẳng Hải Dương dành cho tất cả thí sinh đăng ký dự thi tại tỉnh. Dự kiến, tỉnh sẽ tổ chức 34 điểm thi tại các địa phương trong tỉnh, mỗi đơn vị cấp huyện có ít nhất 2 điểm thi.

Theo đó, Hải Dương có 20.052  thí sinh đăng ký tham dự kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018. Những điểm mới đáng chú ý của kỳ thi năm nay như: điểm ưu tiên khu vực được quy định giảm đi 50% so với mức năm 2017 trở về trước; Bộ GD&ĐT không quy định điểm sàn hay ngưỡng đảm bảo chất lượng vào các trường ĐH, trừ các ngành đào tạo giáo viên. Quyền này được trao cho các trường, các trường được tự chủ, xác định ngưỡng đầu vào cho hợp với chính sách tuyển sinh, chính sách chất lượng của từng trường; điểm xét tuyển năm nay được làm tròn tới 2 chữ số thập phân…

Đối với kỳ thi tuyển sinh THPT năm học 2018-2019, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trường THPT công lập được tổ chức thi một đợt vào các ngày 04, 05 và 06 tháng 6 năm 2018. Môn Tiếng Anh được chọn là môn thi thứ ba và thi theo hình thức tự luận kết hợp trắc nghiệm, thời gian làm bài 60 phút.

4. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Sáng 8/5, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức mít tinh hưởng ứng Tuần lễ quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường năm 2018. Tại buổi lễ, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị các cấp, các ngành liên quan tăng cường phối hợp trong quản lý chất lượng tài nguyên nước; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Tuyên truyền, hướng dẫn người dân các biện pháp xử lý, trữ nước và sử dụng nước an toàn. Xây dựng, duy trì hoạt động của các mô hình thu gom, xử lý rác thải. Vận động người dân cải tạo, sử dụng các công trình nhà tiêu, chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh; không xả rác bừa bãi, không thải trực tiếp chất thải vào nguồn nước. Khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương, ao hồ, hệ thống thoát nước. Tích cực trồng cây xanh nhằm tạo cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp. Sử dụng tiết kiệm nhiên liệu...

Nhân dịp này, Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh, Công ty TNHH Thành Dũng, Công ty TNHH KPF Việt Nam trao tặng 40 cây xanh, 7 xe chở rác, 10 thùng đựng rác, 20 bộ quần áo bảo hộ lao động cho UBND xã Phú Điền. Công ty TNHH KPF Việt Nam tặng 1 máy chiếu cho Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Hải Dương.

Trong tháng 5, cơ quan chức năng đã phát hiện 40 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 40 vụ với tổng số tiền phạt 319,5 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm đã phát hiện 160 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 160 vụ với tổng số tiền phạt 1.503,1 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng Năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 240 triệu đồng. Tính chung 5 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 2.488 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Tháng 4/2018, trên địa bàn tỉnh Hải Dương xảy ra 20 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm chết 22 người, bị thương 21 người. Bốn tháng đầu năm 2018 xảy ra 84 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 85 người và bị thương 58 người; so với cùng kỳ năm 2017, tai nạn giao thông tăng 41 vụ (+95,3%), tăng 41 người chết (+93,2%) và tăng 24 người bị thương (+70,6%)./.


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2018 (28/07/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018 (28/06/2018)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2018 (28/04/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 năm 2018 (28/03/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2018 (28/02/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018 (29/01/2018)
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2017 (29/12/2017)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay136 
 Hôm qua106
 Tuần này523 
 Tất cả348131 
IP: 54.198.27.243