Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2018
Cập nhật: 13/12/2018 10:10:35 AM
Thời tiết hanh khô tạo điều kiện thuận lợi cho công tác làm đất gieo trồng cây vụ đông; sản xuất công nghiệp tăng cao hơn cac tháng trước do nhiệt điện Phả Lại đã tăng sản lượng điện sản xuất; lĩnh vực thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển ổn định.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Sản xuất vụ mùa năm 2018, đầu vụ thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển. Riêng đối với cây lúa, sơ bộ năng suất lúa vụ mùa năm nay đạt 53,75 tạ/ha, thấp hơn so với trung bình các năm được mùa từ 2-3 tạ/ha. Nguyên nhân do lúa bị nhiễm rầy, mật độ rầy phổ biến từ 500-1.000 con/m2, cá biết có diện tích lúa bị nhiễm rầy lên tới 5.000 con/m2 gây cháy ở những diện tích không được phun trừ kịp thời.

Các loại rau màu vụ mùa, năng suất trung bình đạt 212,33 tạ/ha, giảm 1,6% (-5,56 tạ/ha); sản lượng ước đạt 146.404 tấn, giảm 0,7% (-1.067 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết vào cuối tháng 6 đầu tháng 7 nắng nóng luôn ở mức cao, có thời điểm nhiệt độ lên cao trên 400C, nhưng đến cuối tháng 7 do ảnh hưởng của mưa bão (21-23/7) gây ra hiện tượng ngập úng, chết cây nên không thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, làm giảm năng suất một số rau như: củ đậu, mủa, rau cần, rau mùng tơi, rau lấy lá khác, mướp, su su, ớt trái ngọt,...

Sản xuất vụ đông năm 2019, thời tiết diễn biến thuận lợi, thời tiết hanh khô tạo điều kiện thuận lợi cho công tác làm đất gieo trồng cây vụ đông. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến hết tháng 11/2018, tổng diện tích gieo trồng cây rau mầu vụ đông của toàn tỉnh ước đạt 18.000 ha, giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cây khoai lang ước đạt 366 ha, tăng 2%, cây rau các loại ước đạt 14.533 ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 11, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không có dịch bệnh xảy ra; hiệu quả chăn nuôi đạt khá, đàn lợn đang được phục hồi; chăn nuôi gà tiếp tục phát triển mạnh.

Tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.095 con, giảm 2%; đàn bò ước đạt 21.500 con, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn thịt ước đạt 503.500 con, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm ước đạt 11.400 nghìn con, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà ước đạt 8.900 nghìn con, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng tháng 11 ước đạt 161 tấn, giảm 1,5%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 7.612 tấn, giảm 0,9%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 3.200 tấn, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2017.

1.3. Thuỷ sản

Trong tháng 11 sản xuất thủy sản của tỉnh vẫn duy trì ổn định và phát triển, công tác quản lý môi trường ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh các loại thủy sản đạt hiệu quả cao, dịch bệnh được khống chế, chỉ xảy ra ở một số ít diện tích. Phương thức nuôi thâm canh thủy sản của nông dân có nhiều tiến bộ; chú trọng đầu tư giống, thức ăn công nghiệp, sản xuất mang tính hàng hóa tập trung , mạnh dạn đầu tư đặc biệt là giống mới và loài đặc sản.

Trong tháng thời tiết khá thuận lợi, số giờ nắng trung bình trong ngày cao, có mưa rào là điều kiện tốt cho sinh trưởng và phát triển của cá; vì vậy, việc thu hoạch cá thương phẩm và thả giống nuôi vụ mới không gặp khó khăn. Việc nuôi cá lồng trên sông vẫn tiếp tục được duy trì ổn định, với các chủng loại giống đa dạng như diêu hồng, rô phi đơn tính, cá lăng, trắm cỏ và cá chép nuôi giòn.          

2. Sản xuất công nghiệp

Với việc UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo quyết liệt các nhiệm vụ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tập trung đơn giản hóa các thủ tục hành chính; tăng cường cung cấp dịch vụ công trực tuyến; nâng cao chất lượng môi trường đầu tư trên địa bàn; xây dựng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp…đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp trong tỉnh yên tâm sản xuất kinh doanh. Dự ước tháng 11 năm 2018, sản xuất công nghiệp tỉnh Hải Dương tăng 6,1% so với tháng trước, tăng 9,4% so với cùng kỳ, tính chung 11 tháng đầu năm tăng 9,2%.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng 6,1%, trong đó, đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung toàn ngành là sản xuất và phân phối điện với mức tăng 27,9%. Nguyên nhân là do thời gian này đã bước sang mùa hanh khô, thuỷ điện không còn ưu thế cạnh tranh như mùa mưa do vậy để đảm bảo điện sản xuất và tiêu dùng, nhiệt điện Phả Lại đã tăng sản lượng điện sản xuất. Bên cạnh đó, do yếu tố mùa vụ nhu cầu hàng hóa tăng cao vào dịp cuối năm, đây là thời điểm các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất để hoàn thành các đơn hàng vì vậy nhiều ngành sản xuất có chỉ số sản xuất tăng làm cho chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,7%.

So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng 9,4%; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,5%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 11,5%; hai ngành còn lại là ngành khai khoáng giảm 8,4% và ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải giảm 5,6%.

Ngành sản xuất xe có động cơ tăng 32,9% do số lượng xe động cơ chở được 5 người trở lên tăng 130,7% và bộ dây điện sử dụng cho xe có động cơ tăng 25,6%; do nhu cầu thị trường những tháng cuối năm tăng mạnh cùng với đó giá xe nhập khẩu không giảm như kỳ vọng.

Ngoài ra nhiều sản phẩm quan trọng khác của tỉnh cũng có lượng sản xuất tăng cao như: áo sơ mi cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc +12,1%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác +31,0%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài +12,4%; thép hợp kim cán mỏng đã được dát, phủ, mạ hoặc tráng +8,9%; đinh, đinh mũ, ghim dập trừ ghim dập dạng mảnh +33,7%; mạch điện tử tích hợp +21,2%; máy kết hợp từ 2 chức năng trở lên: in, fax, coppy +16,4%; máy khâu loại khác trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình +42,9%; điện sản xuất +13,1%.

Tính chung 11 tháng đầu năm, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tuy vẫn giữ được đà tăng trưởng (IIP 11 tháng đầu năm tăng 9,2% so với cùng kỳ) nhưng thiếu những nhân tố thúc đẩy mới. Một số ngành sản xuất quan trọng của tỉnh đang gặp rất nhiều khó khăn, nhóm doanh nghiệp nội vẫn còn cách nhóm FDI khoảng cách lớn; vấn đề sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường đang là bài toán cấp thiết; nhiều dự án đầu tư bị tạm ngưng hoặc hủy bỏ trong khi ít có dự án lớn đi vào hoạt động cho thấy dù đang tăng trưởng nhưng sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa đạt được mức bền vững như kỳ vọng.

Các sản phẩm chủ yếu có lượng sản xuất tăng là: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket… cho người lớn +28,0%; áo sơ mi cho người lớn +13,5%; áo phông (T- shirt), áo may ô cho người lớn +30,6%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài +11,1%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu +22,8%; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công +8,7%; thép hợp kim cán mỏng đã được dát, phủ, mạ hoặc tráng +19,7%; mạch điện tử tích hợp +21,5%; máy kết hợp từ 2 chức năng trở lên: in, fax, coppy +17,9%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác +13,2%; máy khâu các loại khác trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình +28,7%; xe có động cơ chở được 5 người trở lên + 9,6%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ +18,7%...

2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tình hình sử dụng lao động tại thời điểm 01/11 tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 2,6% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng đầu năm tăng 3,1%. Các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy +8,4%; in, sao chép bản ghi +14,0%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic +6,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) +8,6%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học +10,9%; sản xuất thiết bị điện +26,4%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu +2,9%;  sản xuất xe có động cơ +17,5%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế +16,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác +13,1%...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 đầu năm đạt 192 tỷ đồng chiếm 11,7% kế hoạch năm, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 67 tỷ đồng, chiếm 10,3% so với kế hoạch năm, giảm 39,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện  đạt 118 tỷ đồng  chiếm 13,1% kế hoạch năm; vốn ngân sách cấp xã đạt 7 tỷ đồng chiếm 7,4% kế hoạch năm.

Ước tháng 11, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 187 tỷ đồng, chiếm 11,4% kế hoạch năm, tăng  2,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 60 tỷ đồng chiếm 9,3% kế hoạch năm, giảm 45,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 120 tỷ đồng chiếm 13,4% kế hoạch năm, vốn ngân sách cấp xã đạt 7 tỷ đồng chiếm 7,1% kế hoạch năm.

Tính chung 11 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.496 tỷ đồng giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 633 tỷ đồng giảm 37,0%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 775 tỷ đồng  tăng 58,4%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 88 tỷ đồng giảm 1,6%.

Trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế ở nước ta dựa nhiều vào đầu tư, trong đó đầu tư từ ngân sách Nhà nước có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là các lĩnh vực dùng cho quốc tế, dân sinh. Trong điều kiện nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có hạn, để huy động cao nguồn vốn cho đầu tư phát triển cần tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế bỏ vốn tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh và xây dựng kết cấu hạ tầng. Vốn ngân sách Nhà nước tập trung đầu tư cho các dự án hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp, hoặc không xã hội hóa được. Vấn đề mấu chốt là phải tạo hành lang pháp lý với các cơ chế, chính sách đồng bộ, công khai, minh bạch, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và lợi ích toàn xã hội.

4. Thương mại, giá cả, dịch vụ

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 11 ước đạt 3.870 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 0,9%; tăng 13,8% so với cùng kỳ.

Tính chung 11 tháng đầu năm ước đạt 39.908 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 25.122 tỷ đồng, chiếm 63,% và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 14.020 tỷ đồng, chiếm 35,1% và tăng 13,4%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 766 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo mặt hàng, nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất với 33,3% trong tổng số và đạt 13.304 tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,8% trong tổng số, đạt 5.923 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 5.404 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 11 ước đạt 775 tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước; tăng 16,6% so với cùng kỳ.

 Tính chung 11 tháng đầu năm ước đạt 7.746 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 5.211 tỷ đồng, chiếm 67,3% và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.989 tỷ đồng, chiếm 25,7% và tăng 7,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 394 tỷ đồng, chiếm 5,1% và tăng 4,5% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 267 tỷ đồng, chiếm 3,4% trong tổng số và tăng 7,9% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 3.013 tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8,2%; dịch vụ khác đạt 4.429 tỷ đồng, chiếm 57,2%, tăng 7,2% so với cùng kỳ.  

4.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 11 ước đạt 704 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,6%; trong đó, vận tải hành khách đạt 124 tỷ đồng, tăng 1,5%; vận tải hàng hoá đạt 531 tỷ đồng tăng 1,7%.

Doanh thu 11 tháng đầu năm đạt 7.290 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vận tải hành khách đạt 1.317 tỷ đồng, tăng 11,7%; vận tải hàng hoá đạt 5.467 tỷ đồng, tăng 10,6%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 506 tỷ đồng, tăng 9,9%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 11 năm 2018 ước đạt 2,2 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 0,4%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 160,8 triệu hành khách.km, tăng 0,3% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển đạt 23,9 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 10,5%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 1.496,8 triệu hành khách.km, tăng 10,3% so với cùng kỳ.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11 ước đạt 6,6 triệu tấn, so với tháng trước tăng 1,6%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 433,7 triệu tấn.km, tăng 1,1% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 67,3 triệu tấn, tăng 10,8% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 4.6005,2 triệu tấn.km, tăng 9,1% so với cùng kỳ.

4.4. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 giảm 0,06% so với tháng trước, tăng 3,68% so với tháng 12 năm trước; bình quân 11 tháng đầu năm tăng 3,13% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

CPI giảm (so với tháng trước) là do các loại thực phẩm tiếp tục giảm giá (rau củ và thịt lợn); đồng thời, giá xăng, dầu và gas đun đều giảm nhẹ.

II. Một số vấn đề xã hội

1. Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Kỷ niệm 88 năm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2018), hầu hết các thôn, khu dân cư trong tỉnh đều tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết.

Tối ngày 18/11 tại TP Hải Dương, Ủy ban An toàn giao thông (ATGT) quốc gia phối hợp Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Lễ tưởng niệm nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông (TNGT) năm 2018, với thông điệp "Tưởng nhớ người đi - vì người ở lại" nhằm hưởng ứng Chương trình "Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ " của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Thông điệp của lễ tưởng niệm nhằm cảnh báo về thảm họa TNGT, hậu quả để lại cho mỗi nạn nhân, gia đình nạn nhân và toàn xã hội; đồng thời kêu gọi sự giúp đỡ, sẻ chia từ cộng đồng đối với mất mát, khó khăn của các nạn nhân và gia đình.

Thể thao; Sáng 03/11, Ban Chỉ đạo Đại hội Thể dục thể thao (TDTT) tỉnh lần thứ VIII tổ chức Lễ xuất quân Đoàn thể thao Hải Dương tham dự Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VIII năm 2018. Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VIII năm 2018 diễn ra từ ngày 17/11 – 10/12. Tại đại hội lần này, đoàn thể thao Hải Dương tham dự 20 trong tổng số 36 môn trong chương trình thi đấu với mục tiêu giành 22-25 huy chương vàng, 19-20 huy chương bạc, 25-28 huy chương đồng.

Giải bóng bàn cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Hải Dương là giải phong trào thường niên. Giải năm nay thu hút gần 100 tay vợt đến từ 17 sở, ban, ngành, đoàn thể và một số huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.

2. Y tế

Nhân Ngày Thế giới phòng chống bệnh đái tháo đường 14/11, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh chỉ đạo Trung tâm Y tế các huyện, thị xã, thành phố tổ chức truyền thông, viết bài tuyên truyền, treo băng rôn, khẩu hiệu trên các trục đường chính, nơi tập trung đông dân cư với các nội dung về phòng chống bệnh đái tháo đường. Qua đó góp phần nâng cao nhận thức của người dân về phòng chống bệnh tật, phát hiện bệnh sớm và can thiệp kịp thời để bảo vệ sức khỏe.

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, trong nửa đầu tháng 11 toàn tỉnh có 7 người mắc sốt xuất huyết; 18 trường hợp mắc tay - chân - miệng ở rải rác tại các địa phương, không có trường hợp biến chứng nặng và tử vong.

nâng tổng số ca mắc từ đầu năm đến nay lên

Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 22 trường hợp mắc sốt xuất huyết và hơn 600 bệnh nhân tay - chân - miệng. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh cũng có 1 trẻ 13 tháng tuổi (ở TP Hải Dương) mắc bệnh sởi, 1 trẻ 7 tuổi (ở Chí Linh) mắc bệnh viêm não Nhật Bản B. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh đã tiến hành điều tra, giám sát, lấy mẫu xét nghiệm các ca bệnh để chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh.

3. Giáo dục

Nhân kỷ niệm 36 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982-20/11/2018), thầy và trò các cấp học trong tỉnh phấn đấu thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua học tập, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao là những món quà, tình cảm đặc biệt của học trò nhằm tri ân thầy cô trong Ngày Nhà giáo Việt Nam.

Ngày 14/11, tại Trường THCS Lê Quý Đôn (TP. Hải Dương), Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo, Tỉnh đoàn, Bưu điện tỉnh Hải Dương tổ chức phát động Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 48 và trao giải Ba quốc tế Cuộc thi viết thư UPU lần thứ 47. Cuộc thi nhằm bồi đắp, nuôi dưỡng tình cảm và giúp các em học sinh thể hiện trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với các vấn đề xã hội, của đất nước và mối quan tâm của chính lứa tuổi các em.

Đối tượng dự thi là học sinh Việt Nam từ 15 tuổi trở xuống, các bài thi là một bức thư viết tay, dưới dạng văn xuôi, dài không quá 1000 từ. Thời gian dự thi từ ngày 12/10/2018 đến ngày 15/02/2019.

Tại Hải Dương, từ năm 2010 đến nay, cuộc thi được triển khai rộng khắp trong toàn tỉnh và luôn nằm trong top đầu các tỉnh về số lượng học sinh đạt giải cấp quốc gia. Hải Dương cũng là tỉnh thứ hai trong toàn quốc có học sinh đạt giải Nhất quốc tế tại cuộc thi lần thứ 45, năm 2016.

4. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trong tháng 11, cơ quan chức năng đã phát hiện 05 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 03 vụ với tổng số tiền phạt 186,5 triệu đồng. Tính chung 11 tháng đầu năm đã phát hiện 293 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 230 vụ với tổng số tiền phạt 2.736,5 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng Mười một, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 500 triệu đồng. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 3.160 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Tháng 10/2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông làm chết 14 người, bị thương 05 người. Mười tháng năm 2018 xảy ra 163 vụ tai nạn giao thông, làm chết 158 người, bị thương 83 người; so với cùng kỳ năm 2017, tai nạn giao thông tăng 28 vụ (20,7%), tăng 21 người chết (15,3%) và giảm 26 người bị thương (-24%)./.



 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019 (28/03/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2019 (28/02/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019 (25/01/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2018 (27/12/2018)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2018 (30/10/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2018 (01/10/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2018 (01/09/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2018 (28/07/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018 (28/06/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay42 
 Hôm qua69
 Tuần này430 
 Tất cả392369 
IP: 54.211.135.32