Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2018
Cập nhật: 13/12/2018 09:46:33 AM
Sản xuất công nghiệp ổn định với nhiều nghành tăng khá như may mặc, linh kiện điện, điện tử, da giày; Vụ mùa đã cơ bản thu hoạch xong, nâng suất lúa ước đạt 53,5 tạ/ha.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Vụ mùa năm 2018, diễn biến thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng phát triển, mặc dù nắng nóng hơn so với trung bình nhiều năm, nhưng có mưa xen kẽ, cây lúa sau khi gieo cấy, nông dân tích cực chăm bón nên lúa bén rễ hồi xanh nhanh, đẻ nhánh tập trung, đảm bảo số dảnh hữu hiệu, lúa tương đối tốt, đồng đều. Tuy nhiên, sâu bệnh trên rau màu và lúa mùa diễn biến phức tạp, xuất hiện bệnh bạc lá, dầy nâu và chuột hại trên lúa ở mức độ cao hơn cùng kỳ năm trước.

Cơ bản diện tích lúa mùa trên địa bản tỉnh đã thu hoạch xong, sơ bộ năng suất lúa ước đạt 53,5 tạ/ha, tăng 15,8% (+7,3 tạ/ha) so với vụ mùa năm trước. Năng suất lúa tăng cao là do lúa vụ mùa trước đạt thấp nhất trong 10 năm trở lại.

Sản xuất vụ đông năm 2019, thời tiết hanh khô tạo điều kiện thuận lợi cho công tác làm đất gieo trồng cây vụ đông. Ước tính đến tháng 10, tổng diện tích gieo trồng cây rau mầu vụ đông của toàn tỉnh ước đạt 11.000 ha, tăng 2% (+220 ha) so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cây khoai lang ước đạt 171 ha, tăng 1,8%, cây rau các loại ước đạt 8.765 ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không có dịch bệnh xảy ra; hiệu quả chăn nuôi đạt khá, đàn lợn đang được phục hồi, số lượng, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.020 con, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 22.134 con, tăng 3%; tổng đàn lợn thịt ước đạt 497.322 con, giảm 4,4%; tổng đàn gia cầm ước đạt 10.220 nghìn con, tăng 2,2% (trong đó, đàn gà ước đạt 8.700 nghìn con, tăng 3,1%).

Sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng ước đạt 158 tấn, tăng 3%; thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 7.120 tấn, giảm 5%; thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 3.180 tấn, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước.

1.3. Lâm nghiệp

Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh về việc tiếp tục đóng cửa rừng không cho khai thác trong năm 2018, nên không có sản lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên, chỉ có sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán; sản lượng khai thác củi chủ yếu là chặt cành, làm cỏ, phát quang và tận dụng thu gom khi khai thác gỗ của cây trồng phân tán...

Ước tính trong tháng 10, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 115 m3, giảm 1% so với cùng kỳ năm 2017; sản lượng khai thác củi ước đạt 20.876 ster, so với cùng kỳ năm trước giảm 0,8%. Củi khai thác chủ yếu là chặt cành, làm cỏ, phát quang và tận dụng thu gom khi khai thác gỗ của cây trồng phân tán.

1.4. Thuỷ sản

Trong tháng 10 sản xuất thủy sản của tỉnh vẫn duy trì ổn định và phát triển, công tác quản lý môi trường ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh các loại thủy sản đạt hiệu quả cao, dịch bệnh được khống chế, chỉ xảy ra ở một số ít diện tích. Phương thức nuôi thâm canh thủy sản của nông dân có nhiều tiến bộ; chú trọng đầu tư giống, thức ăn công nghiệp, sản xuất mang tính hàng hóa tập trung , mạnh dạn đầu tư đặc biệt là giống mới và loài đặc sản.

Trong tháng thời tiết khá thuận lợi, số giờ nắng trung bình trong ngày cao, có mưa rào là điều kiện tốt cho sinh trưởng và phát triển của cá; vì vậy, việc thu hoạch cá thương phẩm và thả giống nuôi vụ mới không gặp khó khăn.

 Nuôi cá lồng trên sông vẫn tiếp tục được duy trì ổn định, với các chủng loại giống đa dạng như diêu hồng, rô phi đơn tính, cá lăng, trắm cỏ và cá chép nuôi giòn.          

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp của tỉnh tuy vẫn duy trì được mức tăng trưởng, nhưng tốc độ tăng trưởng chậm lại so với những tháng đầu năm. Bước sang tháng 10, do sản lượng thức ăn chăn nuôi và điện sản xuất tiếp tục xuống thấp so với cùng kỳ đã làm ảnh hưởng tới chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng 4,5%, trong đó các nhóm ngành chính đều có chỉ số tăng cụ thể: ngành khai khoáng  tăng 6,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,8%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 11,3%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 2,6%. Nguyên nhân là do tháng 10 thời tiết thuận lợi hơn cho xây dựng kéo theo nhóm ngành sản xuất vật liệu xây dựng phát triển, điển hình là các ngành: khai khoáng, chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ tre nứa, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác, sản xuất kim loại...

So với cùng kỳ, sản xuất công nghiệp tỉnh Hải Dương tháng 10 tăng 7,6%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 19,1%; hai ngành còn lại có chỉ số giảm là ngành khai khoáng giảm 8,3% và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 15,9%.

Các sản phẩm có lượng sản xuất tăng đó là: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 7,1%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 29,4%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 8,6%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 22,2%; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công tăng 13,1%; đinh, đinh mũ, ghim dập trừ ghim dập dạng mảnh tăng 27,2%; mạch điện tử tích hợp tăng 10,7%; bộ phận của các linh kiện điện tử khác chưa được phân vào đâu tăng 6,3%; máy kết hợp từ 2 chức năng trở lên: in, fax, coppy tăng 19,8%; máy khâu loại khác trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình tăng 47,6%; xe có động cơ chở được 5 người trở lên chưa được phân vào đâu tăng 50,6%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 35,1%...

Bên cạnh đó cũng còn một số sản phẩm có lượng sản xuất giảm sâu so với cùng kỳ, có thể kể đến như  thức ăn cho gia súc giảm 19,0; điện sản xuất giảm 19,4%,....

Tính chung 10 tháng đầu năm, mặc dù đại đa số các ngành sản xuất đều có sản lượng sản xuất tăng nhưng do tác động trái chiều từ một số ngành như khai khoáng, sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất xi măng, sản xuất điện nên so với cùng kỳ sản xuất công nghiệp tỉnh Hải Dương 10 tháng đầu năm chỉ tăng 9,0%.

Các sản phẩm có lượng sản xuất tăng là: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 30,7%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 29,3%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 24,8%; mạch điện tử tích hợp tăng 20,8%; máy kết hợp từ 2 chức năng trở lên: in, fax, coppy tăng 17,5%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 14,1%; máy khâu loại khác trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình tăng 27,9%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 11,1 %; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công tăng 9,5%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 16,1%; .....

Các sản phẩm khác có lượng sản xuất giảm là: đá xây dựng giảm 19,4%; thức ăn cho gia súc giảm 13,2%; clanke xi măng giảm 1,6%; xi măng portland đen giảm 9,2%; máy khâu loại dùng cho gia đình giảm 5,5%; điện sản xuất giảm 1,2%...

2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2018 tăng 0,5% so với tháng trước, tăng 1,5% so với cùng kỳ, tính chung 9 tháng đầu năm tăng 3,3%. Các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,9%; in, sao chép bản ghi tăng 15,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 6,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 25,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 17,3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 17,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 14,0%...

Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: khai khoáng khác   -13,4%; sản xuất đồ uống -4,7%; dệt -19,2%; sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế -6,2%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất -4,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác -7,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị -4,4%; sản xuất và phân phối điện -5,2%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu -10,4%...

3. Hoạt động đầu tư

Việc huy động và sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ đã có đóng góp quan trọng vào việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, do phân cấp quá rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn tới tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn lực.

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 9 đạt 218 tỷ đồng chiếm 13,2% kế hoạch năm, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 71 tỷ đồng, chiếm 11,0% so với kế hoạch năm, giảm 37,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện  đạt 135 tỷ đồng, chiếm 15,0% kế hoạch năm; vốn ngân sách cấp xã đạt 12 tỷ đồng chiếm 12,1% kế hoạch năm.

Ước tháng 10, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 226 tỷ đồng, chiếm 13,8% kế hoạch năm, tăng  23,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 74 tỷ đồng chiếm 11,4% kế hoạch năm, giảm 33,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 140 tỷ đồng chiếm 15,6% kế hoạch năm, vốn ngân sách cấp xã đạt 12 tỷ đồng chiếm 12,6% kế hoạch năm.

Tính chung 10 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.344 tỷ đồng giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 580 tỷ đồng giảm 32,5%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 677 tỷ đồng, tăng 58,7%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 87 tỷ đồng tăng 8,4%.

Những tháng cuối năm để mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước cần tiếp tục chú trọng khuyến khích các nhà đầu tư tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhất là đối với các công trình giao thông, cung cấp điện, nước, bệnh viện, trường học, dạy nghề… quan tâm thu hút đầu tư nước ngoài từ những nước tiên tiến, có tiềm lực tài chính khoa học và công nghệ cao, các tập đoàn lớn có uy tín trên thế giới nhằm thu hút những dự án có sản phẩm giá trị lớn, chứa hàm lượng khoa học công nghệ và chất xám cao, thu hút những dự án công nghệ cao, công nghệ sạch,...

4. Thương mại, giá cả, dịch vụ

Tháng này thị trường cơ bản vẫn duy trì được sự ổn định nhưng theo chiều hướng khá lên, hàng hóa dịch vụ phong phú, đa dạng; cân đối cung - cầu, hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa có mức tăng trưởng tích cực.

Bên cạnh đó công tác quản lý thị trường vẫn luôn sát sao, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi của cả nhà sản xuất và người tiêu dùng, góp phần bình ổn thị trường .

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 10 năm 2018 ước đạt 3.791 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 0,8%; tăng 12,3% so với cùng kỳ.

Tính chung 10 tháng đầu năm ước đạt 35.994 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế, 10 tháng đầu năm kinh tế cá thể đạt 22.644 tỷ đồng, chiếm 62,9% và tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 12.657 tỷ đồng, chiếm 35,2% và tăng 13,4%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 693 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất với 33,3% trong tổng số và đạt 11.978 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ; nhóm gôc và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,8% trong tổng số, đạt 5.329 tỷ đồng, tăng 12,0% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 4.858 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 10 ước đạt 769 tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước; tăng 16,2% so với cùng kỳ.

 Tính chung 10 tháng đầu năm ước đạt 7.029 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 4.729 tỷ đồng, chiếm 67,3% và tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.804 tỷ đồng, chiếm 25,7% và tăng 7,5%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 356 tỷ đồng, chiếm 5,1% và tăng 4,4% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 242 tỷ đồng, chiếm 3,4% trong tổng số và tăng 8,2% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 2.736 tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8,0%; dịch vụ khác đạt 4.016 tỷ đồng, chiếm 57,1%, tăng 7,3% so với cùng kỳ.  

4.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 10 ước đạt 696 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,4%; trong đó, vận tải hành khách đạt 122 tỷ đồng, tăng 0,6%; vận tải hàng hoá đạt 524 tỷ đồng tăng 1,6%.

Doanh thu 10 tháng đầu năm đạt 6.588 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vận tải hành khách đạt 1.193 tỷ đồng, tăng 11,6%; vận tải hàng hoá đạt 4.937 tỷ đồng, tăng 10,6%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 458 tỷ đồng, tăng 10,0%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 10 năm 2018 ước đạt 2,1 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 0,3%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 151,7 triệu hành khách.km, tăng 1,1% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển đạt 21,6 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 10,7%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 1.327,5 triệu hành khách.km, tăng 10,5% so với cùng kỳ.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 10 ước đạt 6,3 triệu tấn, so với tháng trước tăng 0,9%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 423 triệu tấn.km, tăng 0,6% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 60,4 triệu tấn, tăng 10,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 4.166 triệu tấn.km, tăng 9,1% so với cùng kỳ.

4.4. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 giảm 0,04% so với tháng trước, tăng 4,23% so với tháng 12 năm trước; bình quân 10 tháng đầu năm tăng 3,03% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

CPI giảm là do các loại thực phẩm giảm giá (rau củ vào chính vụ và thịt lợn); đồng thời, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tiêu dùng của dân cư nên có tác động lớn đến CPI hơn các mặt hàng khác.

Do giá xăng, dầu (dầu hỏa tăng 472 đồng/lít, xăng A5 tăng không chì tăng 729 đồng/lít, xăng A92 tăng 800 đồng/lít, dầu dizen tăng 553 đồng/lít) nên phần lớn giá các mặt hàng tăng nhẹ.

II. Một số vấn đề xã hội

1. Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Kỷ niệm 88 năm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2018), Ban Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh đề nghị Ủy ban MTTQ 2 cấp trong tỉnh hướng dẫn Ban Công tác Mặt trận các thôn, khu dân cư tổ chức "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc".

Trong dịp này, các thôn, khu dân cư tăng cường tuyên truyền về truyền thống vẻ vang của MTTQ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tổ chức hội nghị tọa đàm, đối thoại giữa nhân dân với lãnh đạo cấp ủy, chính quyền để trao đổi và giải quyết những vấn đề nhân dân quan tâm; thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, cán bộ mặt trận các thời kỳ, hộ nghèo tại địa phương; khánh thành nhà đại đoàn kết, các công trình phúc lợi; tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, hội trại, trò chơi dân gian; khuyến khích các thôn, khu dân cư tổ chức bữa cơm đại đoàn kết...

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh sẽ phối hợp với MTTQ các huyện Nam Sách, Cẩm Giàng, thị xã Chí Linh, TP Hải Dương lựa chọn mỗi địa phương một thôn, khu dân cư tiêu biểu để mời các đồng chí lãnh đạo tỉnh về dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với nhân dân.

Thể thao; Ngày 13/10, tại Nhà Thi đấu thể dục thể thao tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đăng cai tổ chức Hội thao Khối thi đua kinh tế chuyên ngành năm 2018. Hội thao thu hút 206 vận động viên đến từ 8 sở, ngành tham gia, gồm: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương, Xây dựng, Giao thông vận tải, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường, Liên minh HTX và Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh. Các vận động viên tranh tài ở các môn bóng đá, cầu lông, quần vợt, bóng bàn, kéo co và cờ tướng.

2. Y tế

Ngành y tế tỉnh tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng Tuần lễ "Dinh dưỡng và phát triển" với chủ đề "Thực hiện dinh dưỡng ngay hôm nay giúp cải thiện thể lực, tầm vóc, trí tuệ và chất lượng cuộc sống ngày mai".

Từ tháng 10, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh sẽ tổ chức khám sàng lọc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và tiền ĐTĐ cho 3.600 người từ 45-69 tuổi có yếu tố nguy cơ tại 15 xã của huyện Nam Sách. Đây là chương trình triển khai hoạt động phòng chống bệnh ĐTĐ giữa Bệnh viện Nội tiết Trung ương và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hải Dương. ĐTĐ là bệnh mạn tính, thời gian ủ bệnh rất lâu, người mắc sẽ phải mất chi phí rất lớn để điều trị. Tầm soát bệnh ĐTĐ nhằm làm giảm bớt gánh nặng điều trị, giảm mức độ trầm trọng của bệnh và phòng chống hiệu quả những biến chứng có thể gây ra.

Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh tổ chức tập huấn triển khai tiêm vaccine bại liệt trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho gần 50 cán bộ chuyên trách tiêm chủng mở rộng các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.

3. Giáo dục

Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 năm học 2018 - 2019 sẽ được tổ chức vào tháng 01 năm sau, sớm hơn những năm học trước 2 tháng. Kỳ thi được tổ chức sớm sẽ thu hút số lượng học sinh tham gia nhiều hơn; đồng thời giúp học sinh có nhiều thời gian ôn luyện trong đợt tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT công lập. Những năm trước, do gần thời gian thi tuyển vào lớp 10 nên nhiều em không tham gia kỳ thi này. Các môn thi học sinh giỏi lớp 9 là: toán, vật lý, hóa học, sinh học, ngữ văn, lịch sử, địa lý và ngoại ngữ.

3. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trong tháng Mười, cơ quan chức năng đã phát hiện 11 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 10 vụ với tổng số tiền phạt 91 triệu đồng. Tính chung 10 tháng đầu năm đã phát hiện 228 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 227 vụ với tổng số tiền phạt 2.550 triệu đồng.

4. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng Mười, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, nổ nào thiệt hại ước tính 156 triệu đồng. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 26 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 2.660 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Chín tháng năm 2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 148 vụ tai nạn và 10 vụ va chạm giao thông, làm chết 143 người, làm bị thương 78 người; so với cùng kỳ năm 2017, số vụ TNGT tăng 35 vụ (tăng 31%), tăng 29 người chết (tăng 25.2%) và giảm 04 người bị thương (-3%). Trong đó: TNGT đường bộ xảy ra 140 vụ, làm 139 người chết và 73 người bị thương; TNGT đường sắt xảy ra 07 vụ, làm 05 người chết, 05 người bị thương; xảy ra 01 vụ TNGT đường thủy nội địa (không có người chết và bị thương)./.




 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2018 (27/12/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2018 (28/11/2018)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2018 (01/10/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2018 (01/09/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2018 (28/07/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018 (28/06/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2018 (28/05/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay139 
 Hôm qua156
 Tuần này139 
 Tất cả377600 
IP: 18.205.246.238