Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2017
Cập nhật: 06/12/2017 03:37:17 PM
Mặc dù sản xuất nông nghiệp trong năm gặp nhiều khó khăn, chăn nuôi lợn sụt giảm, năng suất lúa vụ mùa đạt thấp; nhưng sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng ổn định, hoạt động xây dựng tăng trưởng khá, dịch vụ phát triển tốt; do đó, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 của tỉnh vẫn sẽ đạt và vượt kế hoạch đề ra.
 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Vụ mùa năm nay, đầu vụ thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển,; tuy nhiên ở giai đoạn cuối vụ mưa nhiều làm cho một số cây rau mầu bị dập nát, thối rễ, sâu bệnh phát sinh gây hại; đồng thời mưa nhiều ở giai đoạn lúa trỗ bông, làm cho cây lúa vào chắc kém, tỷ lệ nép cao, bệnh lem nép hạt phát triển mạnh.

Đến nay, cơ bản diện tích lúa mùa trên địa bản tỉnh đã thu hoạch xong. Sơ bộ năng suất lúa vụ mùa ước đạt 46,18 tạ/ha, giảm 17,6% (-9,87 tạ/ha) so với vụ mùa năm trước. Năng suất lúa vụ mùa năm nay đạt thấp nhất trong nhiều năm gần đây, nguyên nhân do mưa nhiều ở giai đoạn lúa trỗ bông, làm cho cây lúa vào chắc kém, tỷ lệ nép cao, bệnh lem nép hạt phát triển mạnh; sâu bệnh xuất hiện sớm với mật độ cao hơn so với trung bình nhiều năm như: bệnh nấm lùn sọc đen và một số sâu bệnh khác như bạc lá, rầy nâu... đồng thời bị ảnh hưởng nặng do chuột phá hoại.

Hầu hết các loại cây rau vụ mùa cho năng suất thấp hơn so với cùng kỳ năm 2016. Thời tiết vụ mùa năm nay nóng ấm, mưa rào xen kẽ bất thường tạo điều kiện thuận lợi cho các loại bệnh như héo rũ, phấn trắng, giả sương mai phát sinh gây hại cho cây trồng.

Sản xuất vụ đông năm 2018, thời tiết diễn biến bất thuận, mưa nhiều, đất ướt gây khó khăn cho công tác làm đất gieo trồng cây vụ đông. Tính đến ngày 15/11/2017, tổng diện tích gieo trồng cây rau mầu vụ đông của toàn tỉnh ước đạt gần 16.000 ha, bằng 86% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, 1.130 ha ngô, 1.155 ha cà rốt, 5.500 ha hành tỏi và trên 7.000 ha rau các loại. Hiện nay, các địa phương đang tập trung cầy ải, dự kiến công tác cầy ải được thực hiện xong trong tháng 11, chậm hơn so với năm trước từ 5 đến 10 ngày.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 11, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không có dịch bệnh xảy ra; tuy nhiên hiệu quả chăn nuôi đạt thấp; số lượng, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đều giảm so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.203 con, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 20.941 con, tăng 3,1%; đàn lợn thịt ước đạt 507.000 con, giảm 11,8%; tổng đàn gia cầm ước đạt 11.150 nghìn con, giảm 2,8%, trong đó đàn gà ước đạt 8.724 nghìn con, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước.

Công tác phòng chống bệnh cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh được duy trì thường xuyên, hiện nay Chi cục Thú y tỉnh đang tích cực triển khai tiêm phòng vụ đông.

1.3. Thủy sản

Trong tháng 11 sản xuất thủy sản của tỉnh vẫn duy trì ổn định, công tác quản lý môi trường ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh các loại thủy sản đạt hiệu quả cao, dịch bệnh được khống chế, chỉ xảy ra ở một số ít diện tích. Phương thức nuôi thâm canh thủy sản của nông dân có nhiều tiến bộ; chú trọng đầu tư giống, thức ăn công nghiệp, sản xuất mang tính hàng hóa tập trung , mạnh dạn đầu tư đặc biệt là giống mới và loài đặc sản.

Trong tháng thời tiết khá thuận lợi, số giờ nắng trung bình trong ngày cao, có mưa rào là điều kiện tốt cho sinh trưởng và phát triển của cá; vì vậy, việc thu hoạch cá thương phẩm và thả giống nuôi vụ mới không gặp khó khăn. Phương thức nuôi cá lồng trên sông vẫn tiếp tục được duy trì ổn định, với các chủng loại giống đa dạng như diêu hồng, rô phi đơn tính, cá lăng, trắm cỏ và cá chép nuôi giòn.         

2. Sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay phát triển tương đối ổn định. Chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng đều đạt mức tăng trưởng khá.

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng 2,4%; trong đó, ngành có mức tăng cao nhất là ngành khai khoáng với mức tăng 14,1%, nguyên nhân là do điều kiện thời tiết thuận lợi, không còn mưa nhiều như tháng trước nên lượng đá khai thác tăng 16,5%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng này tăng khá do yếu tố mùa vụ, nhu cầu hàng hóa tăng cao vào dịp cuối năm, đây là thời điểm các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất để hoàn thành các đơn hàng.

So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng 6,2%; trong đó, ngành chế biến chế tạo tăng 4,9%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 13,0%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 9,9%; riêng ngành khai khoáng vẫn giảm 24,8%.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,9%, với nhiều ngành có chỉ số sản xuất tăng cao và khá cao so với mức tăng chung như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 23,8%; sản xuất thiết bị điện tăng 27,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 31,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 20,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 21,8%; sản xuất trang phục tăng 15,9%...

Tính chung 11 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,9%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 14,2%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 0,4%; công nghiệp khai khoáng giảm 13,3%.

Nhiều ngành sản xuất quan trọng của tỉnh có mức tăng trưởng cao và khá cao, điển hình như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,1%; sản xuất trang phục tăng 17,9%; sản xuất da và các sản phẩm da có liên quan tăng 32,6%; sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế tăng 8,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 25,6%; sản xuất kim loại tăng 23,7%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 18,8%; sản xuất điện tử và thiết bị quang học tăng 30,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 21,4%.

Các sản phẩm có lượng sản xuất tăng là: bộ complê, quần áo đồng bộ, áo jacket, cho người lớn tăng 11,8%; áo sơ mi cho người lớn tăng 25,4%; áo phông (T- shirt), áo may ô cho người lớn tăng 30,8%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 32,6%; than cốc và bán cốc luyện từ than đá tăng 8,3%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 32,2%; sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công tăng 27,2%; đinh, đinh mũ, ghim dập trừ ghim dập dạng mảnh tăng 20,2%; mạch điện tử tích hợp tăng 34,3%; máy kết hợp từ 2 chức năng trở lên: in, fax, coppy tăng 14,0%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 9,4%;...

Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nghiệp lớn có lượng sản xuất ổn định, tăng trưởng đều như công ty cổ phần Năng lượng Hòa Phát, công ty cổ phần Thép Hòa Phát, công ty TNHH Sumidenso Việt Nam, công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam, công ty TNHH Umc Việt Nam, công ty TNHH Aiden Việt Nam;... thì cũng còn không ít các doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ thậm chí là cả doanh nghiệp lớn đang gặp khó khăn.

Hoạt động sản xuất xe có động cơ, do áp lực cạnh tranh về giá của các dòng xe nhập khẩu từ khu vực ASEAN mà sản lượng xe lắp giáp trong nước giảm 14,1% so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động sản xuất nhiệt điện, do dây truyền sản xuất đã cũ làm giá thành sản xuất điện cao; đồng thời,các nhà máy thủy điện đủ nước vận hành nên lượng nhiệt điện sản xuất chỉ bằng đạt 98,6% cùng kỳ.

Đối với một số ngành như sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất xi măng, nhiều doanh nghiệp do gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ hoặc thiếu nguyên liệu đầu vào mà ảnh hưởng tới sản lượng sản xuất. Hiện nay, Công ty Xi măng Phúc Sơn có lượng nguyên liệu mua ngoài chiếm 25%. Nguyên nhân là do mỏ đá vôi Nhẫm Dương (Kinh Môn) đã được Thủ tướng Chính phủ đưa ra khỏi Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm xi măng đến năm 2020 nên doanh nghiệp phải tổ chức mua gom nguyên liệu bên ngoài để phục vụ sản xuất. Việc phải thu gom đá bên ngoài ảnh hưởng lớn tới kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.

Sắp tới, để duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trước bối cảnh và thách thức mới, yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp là làm thế nào tận dụng được lợi thế về nguồn lao động và tài nguyên dồi dào. Song song với đó là chú trọng xây dựng thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp, uy tín thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã và đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng với chi phí thấp, kịp thời, tin cậy; phải chuyển dần từ cách thức cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh phi giá gắn với tiêu chuẩn, mẫu mã giao dịch.

Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn tăng trưởng ổn định, tuy nhiên nội tại từng ngành sản xuất và giữa các loại hình doanh nghiệp có sự tăng trưởng không đồng đều. Một số ngành sản xuất quan trọng của tỉnh đang gặp rất nhiều khó khăn như sản xuất ô tô, vật liệu xây dựng, nhiệt điện; nhóm doanh nghiệp nội vẫn còn cách nhóm FDI khoảng cách lớn; vấn đề sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường đang là bài toán cấp thiết; nhiều dự án đầu tư bị tạm ngưng hoặc hủy bỏ trong khi ít có dự án lớn đi vào hoạt động cho thấy dù đang tăng trưởng nhưng sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa thực sự bền vững.

Vì vậy thời gian tới vẫn rất cần sự chung tay của các cấp các ngành cũng như của chính các doanh nghiệp để đưa nền sản xuất công nghiệp tỉnh nhà phát triển ổn định và bền vững.

3. Hoạt động đầu tư

Ước tháng 11, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 187,9 tỷ đồng, giảm 17,7% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 113,9 tỷ đồng, giảm 19,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã đạt 74,0 tỷ đồng, giảm 15,1% so với cùng kỳ năm trước.

Ước 11 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.589,2 tỷ đồng, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.008,5 tỷ đồng, giảm 15,9% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 490,6 tỷ đồng, giảm 2,4% so với cùng kỳ, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 90,1 tỷ đồng, giảm 9,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 10, có 3 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép mới với số vốn đăng ký 23,6 triệu USD. Tính đến ngày 15/11 có 41 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép mới với số vốn đăng ký 201,2 triệu USD; trong đó, chủ yếu là các dự án sản xuất công nghiệp (38 dự án, vốn đăng ký 195,5 triệu USD).

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh 11 tháng, ước đạt 13.057 tỷ đồng, bằng 103,7% dự toán năm và tăng 28,2% so với cùng kỳ năm 2016; trong đó, thu nội địa 10.311 tỷ đồng, bằng 98,3% dự toán năm và tăng 27,8% so với cùng kỳ năm 2016, thu qua hải quan 2.745 tỷ đồng, bằng 130,7% dự toán năm và tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước.

Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 795 tỷ đồng, bằng 76,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3.261 tỷ đồng, bằng 65,2%; thu ngoài quốc doanh đạt 2.703 tỷ đồng, bằng 140,8%; thu tiền sử dụng đất đạt 1.271 tỷ đồng, bằng 195,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tính đến 15 tháng 11, ước đạt 12.260 tỷ đồng, bằng 125,1% dự toán năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 2.453 tỷ đồng, bằng 180,7%, chi thường xuyên 9.805 tỷ đồng, bằng 119,2% so với dự toán.

Trong chi thường xuyên, chi an ninh đạt 682 tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ; chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề đạt 2.969 tỷ đồng, tăng 3,0%; chi y tế đạt 295 tỷ đồng, giảm 40,8%; chi đảm bảo xã hội đạt 1.831 tỷ đồng, tăng 13,8%; chi quản lý hành chính đạt 1.702 tỷ đồng, tăng 3,1%.

5. Thương mại, giá cả, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 11 ước đạt 4.016 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 0,1% và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng đầu năm ước đạt 42.481 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế:

- Khu vực kinh tế nhà nước đạt 214 tỷ đồng, chiếm 0,5% tổng mức; tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước

- Kinh tế tập thể đạt 283 tỷ đồng, chiếm 0,7% tổng mức; tăng 26,8% so với cùng kỳ năm trước

- Kinh tế cá thể đạt 26.820 tỷ đồng, chiếm 63,1% tổng mức; tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước

 - Kinh tế tư nhân đạt 14.451 tỷ đồng, chiếm 34,0% tổng mức; tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước

- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 712 tỷ đồng, chiếm 1,7% tổng mức; tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước

Phân theo ngành kinh tế:

- Doanh thu bán lẻ đạt 35.532 tỷ đồng, chiếm 93,6% cơ cấu trong tổng chung; tăng 11,8% so với cùng kỳ, trong đó ngành lương thực, thực phẩm tăng 9,0%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 19,2%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 9,1%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 3.008 tỷ đồng, chiếm 7,1% tổng mức và tăng 9,9% so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 34,3 tỷ đồng, chiếm 0,08% tổng mức và tăng 20,6% so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác đạt 3.907 tỷ đồng, chiếm 9,2% tổng mức và tăng 23,7% so với cùng kỳ.

5.2. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 11 ước đạt  627 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,0%, trong đó, vận tải hành khách đạt 110 tỷ đồng  tăng 1,0%; vận tải hàng hoá đạt 473 tỷ đồng tăng 1,1%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 44,5 tỷ đồng tăng 0,3%. Tính theo ngành đường, vận tải đường bộ đạt 470,7 tỷ đồng,  tăng 0,5%; vận tải đường biển đạt 15,6 tỷ đồng, cơ bản ổn định; vận tải đường thủy nội địa đạt 141,1 tỷ đồng, tăng 2,7%.

Doanh thu vận tải, kho bãi 11 tháng đầu năm đạt 6.579 tỷ đồng. So với cùng kỳ tăng 10,7%, trong đó: vận tải hành khách đạt 1.178 tỷ đồng tăng 11,0%; vận tải hàng hoá  đạt 4.939 tỷ đồng tăng 10,8%; doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 461 tỷ đồng tăng 8,9%. Chia theo ngành đường vận tải đường bộ đạt 4.986 tỷ đồng tăng 11,6%; vận tải đường biển đạt 165 tỷ đồng tăng 0,7%; vận tải đường thủy nội địa đạt 1.428 tỷ đồng tăng 9,0%. Chia theo thành phần kinh tế, Kinh tế tư nhân tăng 9,7%; kinh tế cá thể tăng 11,7%;  kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,0%.

Trong tháng 11 khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,97 triệu hành khách, so với tháng trước giảm 0,8%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 143,4 triệu hành khách.km, tăng 0,4%.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11 ước đạt 5,56 triệu tấn, so với tháng trước giảm 0,6%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 391,6 triệu tấn.km, tăng 1,5%.

Tính chung 11 tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển đạt 21,4 triệu lượt hành khách, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,9%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 1.345 triệu hành khách.km, tăng 9,8%.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 60,1 triệu tấn, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,8%, trong đó: đường bộ ước đạt 33,7 triệu tấn, tăng 10,9%; đường sông ước đạt 25,7 triệu tấn, tăng 8,8%; đường biển ước đạt 0,7 triệu tấn, tăng 0,3%.

Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 4.210,2 triệu tấn.km, so với cùng kỳ tăng 8,8%, trong đó: đường bộ ước đạt 1.329,5 triệu tấn.km, tăng 10,4%; đường sông ước đạt 2.535,4 triệu tấn.km, tăng 9,1%; đường biển ước đạt 345,3 triệu tấn.km, tăng 0,8%.

6. Tổng quan thị trường, giá cả

Tình hình giá cả thị trường tháng 11 năm 2017 có xu hướng giảm, với mức giảm không đột biến. Tháng này, một số nhóm hàng có xu hướng giảm chủ yếu vẫn là các nhóm như thịt lợn mông sấn, rau, củ quả; sắt, thép giảm nhiều. Tuy nhiên, mặc dù tháng này có một số nhóm hàng tăng nhưng do tỷ tọng thấp nên chỉ số chung vẫn giảm nhẹ. Một số nhóm hàng tăng so với tháng trước như: Gạo, xăng, dầu do Nhà nước có các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu tăng  vào ngày 04/11 và ngày 20/1, nhóm ga đun vẫn ổn định như tháng trước; vàng và đô la Mỹ có xu hướng giảm nhẹ...

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 so với tháng trước giảm 0,25%; các khu vực giảm tương đối dồng đều nhau: khu vực thành thị giảm 0,22% và khu vực nông thôn giảm 0,27%. Nguyên nhân làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI)  tháng 11 năm nay giảm so với tháng trước do nguyên nhân tác động các yếu tố chủ yếu như:

- Do nguồn cung dồi dào nên đã đẩy giá thịt lợn giảm, giảm từ 5.000-7.000 đồng/kg;

- Giá rau, củ, quả giảm mạnh do nhiều loại rau, củ chính vụ lại được mùa năng suất cao.

So với tháng 12 năm trước tăng 0,82%; so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 0,61%; bình quân 11 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 2,97%. So với tháng trước.



 
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2017 (28/10/2017)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2017 (03/10/2017)
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2017 (28/08/2017)
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2017 (28/07/2017)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2017 (27/06/2017)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay112 
 Hôm qua206
 Tuần này112 
 Tất cả303354 
IP: 54.226.132.197