Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 04 năm 2020
Cập nhật: 02/07/2020 03:40:25 PM
Dịch Covid-19 lan rộng ở trên thế giới, lệnh phong tỏa và giãn cách xã hội sẽ kéo dài làm hoạt động sản xuất đình trệ và nhu cầu tiêu dùng giảm làm cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ ảnh hưởng lớn. Riêng hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản khá ổn định do ít chịu tác động từ dịch.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Vụ chiêm xuân năm 2020, toàn tỉnh gieo trồng sơ bộ đạt 66.300 ha, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, diện tích lúa chiêm xuân sơ bộ đạt 56.419 ha; rau, màu vụ xuân ước đạt trên 9.000 ha. Diện tích gieo trồng giảm, trong đó cây lúa giảm nhiều nhất (giảm 1.384 ha); nguyên nhân chính là do:  (1) chuyển sang trồng cây hàng năm khác, cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao hơn; (2) chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản; (3) chuyển mục đích sử dụng đất làm khu công nghiệp, đường giao thông, khu dân cư, đường nội đồng, kênh dẫn nước....

Tính đến ngày 15/4, toàn tỉnh đã chăm sóc được trên 50.000 ha lúa đợt 2, lúa chiêm xuân năm nay sinh trưởng và phát triển tốt; tuy nhiên sâu bệnh, chuột gây hại nhiều hơn so với cùng kỳ năm 2019.

Về cây ăn quả, đặc biệt là cây vải thiều, diễn biến thời tiết năm nay khá thuận lợi đối với việc sinh trưởng, phát triển của cây vải, cây vải phân hóa mầm hoa tốt, tỷ lệ ra hoa đậu quả cao; riêng tại huyện Thanh Hà, tỷ lệ đậu quả của cây vải ước đạt trên 90%, tăng 40% so với năm 2019.

1.2. Chăn nuôi

Chăn nuôi gia cầm trong tỉnh ổn định, không xẩy ra dịch bệnh nên đàn gia cầm phát triển tốt. Do chăn nuôi lợn khôi phục chậm, nhiều hộ trang trại, gia trại chuyển sang nuôi gà để bù đắp chi phí, duy trì quy mô chuồng trại đã xây dựng, nên đàn gia cầm tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2019. Tổng đàn gia cầm toàn tỉnh ước đạt 12.800 nghìn con, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó đàn gà ước đạt 9.850 nghìn con tăng 5,3%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tháng 4 ước đạt 4.100 tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước.

Riêng chăn nuôi lợn việc tái đàn sau dịch chậm do nguồn lợn giống khan hiếm, người chăn nuôi sản xuất cầm chừng, không mạnh dạn đầu tư tái đàn. Tổng đàn lợn thịt của toàn tỉnh tháng 4 ước đạt 215.000 con, giảm 43,4% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 4 ước đạt 3.900 tấn, tăng 41% so với cùng kỳ.

Tổng đàn trâu trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng, do nhu cầu tiêu dùng cao, tổng đàn trâu tháng 4 của toàn tỉnh ước đạt 4.220 con, tăng 3,7%; Đàn bò ước đạt 18.600 con, giảm 7,5%  so với cùng kỳ năm 2019. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 194 tấn, tăng 6%; sản lượng thịt bò ước đạt 550 tấn, giảm 3% so với cùng kỳ.

1.3. Thuỷ sản

Tình hình nuôi trồng thuỷ sản phát triển ổn định, công tác vệ sinh ao nuôi và phòng trừ dịch bệnh được duy trì thường xuyên nên cơ bản dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ, rải rác.

Diện tích nuôi trồng thủy sản mặt nước được duy trì ổn định, với diện tích đang nuôi trồng thủy sản ước đạt trên 11.000 ha, tương đương với cùng kỳ năm 2019. Phương thức nuôi lồng bè tiếp tục được duy trì và mở rộng sản xuất. Hiện nay, toàn tỉnh ước đạt trên 6.000 lồng nuôi cá; tổng thể tích nuôi ước đạt 720.000 m­3.

Hiện nay, người nuôi trồng thủy sản đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thấp, trong khi nguồn cung lại dồi dào do hầu hết các ao nuôi đang trong thời kỳ cho thu hoạch. Sản lượng thủy sản nuôi trồng, khai thác tháng 4 ước đạt trên 9.000 tấn, tăng 9% so với cùng kỳ 2019.

2. Sản xuất công nghiệp

Sang tháng 4, dịch Covid-19 lan rộng ở các nền kinh tế lớn Châu Âu và Châu Mỹ, lệnh phong tỏa và giãn cách xã hội sẽ kéo dài đến cuối tháng 4 đầu tháng 5 nên các đơn hàng xuất khẩu thành phẩm giảm. Để duy trì sản xuất các doanh nghiệp phải cắt giảm lượng sản xuất, giảm bớt chi phí đã làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh giảm sút đáng kể.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, sản xuất công nghiệp tháng 4 giảm 7,8% so với tháng trước. Cụ thể mức tăng, giảm của các ngành như sau: ngành khai khoáng giảm 21,6%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,0%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 13,9%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 0,2%.

So với cùng kỳ, sản xuất công nghiệp tháng 4 của tỉnh giảm 10,7%; trong đó, ngành khai khoáng giảm 49,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 12,3%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 4,0%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 4,2%;

Tính chung 4 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp giảm 1,2% so với cùng kỳ; trong đó, ngành khai khoáng giảm 23,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,2%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 3,9%; ngành ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 17,8%.

Đa số các sản phẩm sản xuất của tỉnh có lượng sản xuất giảm sút, bên cạnh đó có một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng điển hình như: áo phông (T-shirt), may ô người lớn tăng 3,0%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 6,8%; micro và các linh kiện của chúng tăng 13,2%; bơm nước một tầng, một cửa hút, trục ngang tăng 18,4%; điện sản xuất tăng 20,5%, nước uống được tăng 4,5%.

Đáng chú ý là trong khi đa số các ngành đều có chỉ số giảm thì ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí lại có chỉ số tăng cao sau nhiều năm có mức tăng trưởng âm. Nguyên nhân do sau thời gian sửa chữa, bảo dưỡng trùng tu nên hiệu quả sản xuất tăng, giá bán điện cạnh tranh hơn; đồng thời, nguồn nước thủy điện thiếu hụt nên các nguồn nhiệt điện được huy động sản xuất nhiều hơn.

2.2. Chỉ số sử dụng lao động

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2020 dự ước giảm 0,9% so với tháng trước, giảm 2,3% so với cùng kỳ, tính chung 4 tháng đầu năm giảm 0,1%. Các ngành có lượng lao động giảm là: khai khoáng khác giảm 27,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 3,9%; sản xuất đồ uống giảm 13,1%; sản xuất trang phục giảm 0,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,6%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3,0%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 3,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 9,9%; sản xuất kim loại giảm 2,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 1,4%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 2,2%;...

Các ngành có lượng lao động tăng là: dệt tăng 19,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và sản phẩm hóa chất tăng 15,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 1,4%; sản xuất giường tủ, bàn ghế tăng 4,4%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 16,6%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 6,0%... Lao động vẫn có xu hướng tăng tại các ngành này chủ yếu là do các ngành này có thêm doanh nghiệp hoạt động ngành năm nay đi vào sản xuất đại trà và mở rộng quy mô sản xuất như công ty TNHH Best Paciffic (ngành dệt), công ty TNHH GFT Unique (ngành công nghiệp chế biến chế tạo khác), ngành sản xuất trang thiết bị y tế, thuốc phục vụ cho ngành y tế, ...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 3 đạt 136 tỷ đồng, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 67 tỷ đồng, giảm 1,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 59 tỷ đồng, tăng 3,5%; vốn ngân sách cấp xã đạt 10 tỷ đồng, tăng 3,4%.

Ước tháng 4, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 156 tỷ đồng, tăng  6,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 80 tỷ đồng, tăng 3,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 65 tỷ đồng, tăng 9,5%; vốn ngân sách cấp xã đạt 11 tỷ đồng, tăng 10,8%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 458 tỷ đồng, đạt 12,7% kế hoạch năm, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 222 tỷ đồng, đạt 13,4% kế hoạch năm, tăng 4,2%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 201 tỷ đồng, đạt 11,6% kế hoạch năm, tăng 2,5%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 35 tỷ đồng, đạt 16,2% kế hoạch năm, tăng 0,8%.

Trong bối cảnh nhiều khó khăn do tác động của dịch bệnh, mặc dù tính chung 4 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư công thực hiện và giải ngân vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, cần nhiều nỗ lực hơn nữa đẩy mạnh giải ngân nguồn vốn quan trọng này trong thời gian tới để góp phần bù đắp thiếu hụt về tăng trưởng cho năm nay. Theo thông báo số 126/TB-VPCP của văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân trong bối cảnh tác động của dịch Covid-19; trong đó, Thủ tướng nhấn mạnh: “Tập trung đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm và có ý nghĩa quan trọng nhất để bù đắp phần thiếu hụt tăng trưởng do tác động của dịch Covid-19”.

4. Thương mại, giá cả, dịch vụ

Thực hiện chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19, thực hiện cách ly toàn xã hội trên phạm vi cả nước, tạm ngừng hoạt động, đóng cửa các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa không thiết yếu. Cùng với việc ảnh hưởng của dịch bệnh và tác động tiêu cực từ các biện pháp ngăn chặn đại dịch đã làm cho hoạt động thương mại, dịch vụ của tỉnh tháng 4 năm 2020 tiếp tục gặp khó khăn.

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 4 ước đạt 3.474 tỷ đồng, giảm 12,8% so với tháng trước và giảm 10,1% so với cùng kỳ. Trong đó chỉ có duy nhất nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm là tăng tất cả các mặt còn lại đều giảm sút.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất ước đạt 1.389 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, ước đạt 516 tỷ đồng, giảm 11,7% so với tháng trước và giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 475 tỷ đồng, giảm 10,9% so với tháng trước và giảm 9,7% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tính chung 4 tháng đầu năm ước đạt 15.881 tỷ đồng, tăng 3,9% so với cùng kỳ.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất với 36,2% trong tổng số và đạt 5.742 tỷ đồng, tăng 10,5%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,7% trong tổng số, đạt 2.335 tỷ đồng, tăng 3,7%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.156 tỷ đồng, tăng 2,5%.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 4 ước đạt 315 tỷ đồng, giảm 46,3% so với tháng trước và giảm 59,8% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú ước đạt xấp xỉ 5 tỷ đồng, giảm 50,9% so với tháng trước, giảm 81,7% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt xấp xỉ 95 tỷ đồng, giảm 50,1% so với tháng trước, giảm 72,3% so với cùng kỳ; dịch vụ khác ước đạt 215 tỷ đồng, giảm 44,2% so với tháng trước, giảm 47,7% so với cùng kỳ.

  Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 4 tháng đầu năm ước đạt 2.303 tỷ đồng, giảm 23,9% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 51 tỷ đồng, chiếm 2,2% trong tổng số và giảm 49,2% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 846 tỷ đồng, chiếm 36,7% tổng số và giảm 35,7% so với cùng kỳ; dịch vụ khác đạt 1.400 tỷ đồng, chiếm 60,8% tổng số, giảm 12,3% so với cùng kỳ. 

4.3. Vận tải

Từ đầu tháng 2-2020, ngành vận tải cả nước cũng như Hải Dương bắt đầu hứng chịu thiệt hại do ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19. Đến thời điểm này, nhiều doanh nghiệp vận tải phải đối mặt với khó khăn như: doanh thu thấp do giảm công suất, không đủ để chi trả lương cho người lao động, không đủ chi phí trả lãi ngân hàng nên phải bù lỗ. Trong đó, chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm doanh nghiệp vận chuyển hành khách.

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 4 ước đạt 538 tỷ đồng; giảm 11,3% so với tháng trước và giảm 36,9% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 46 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 35,9%, so với cùng kỳ giảm 58,8%; vận tải hàng hoá đạt 438 tỷ đồng, giảm 8,7% so với tháng trước và giảm 33,6% so với cùng kỳ; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 53 tỷ đồng, giảm 1,3% so với tháng trước và giảm 33,5% so với cùng kỳ.

 Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải 4 tháng đầu năm ước đạt 2.500 tỷ đồng, giảm 23,4% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 306 tỷ đồng, giảm 33,6%; vận tải hàng hoá đạt 1.965 tỷ đồng, giảm 21,0%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 225 tỷ đồng, giảm 27,9%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 4 ước đạt 1,4 triệu hành khách, so với tháng trước giảm 28,9% và giảm 55,2% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 44,5 triệu hành khách.km, giảm 37,2% so với tháng trước và giảm 60,8% so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 8,1 triệu hành khách, so với cùng kỳ giảm 32,4%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 300,1 triệu hành khách.km, giảm 35,4% so với cùng kỳ năm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4 ước đạt 7,8 triệu tấn, so với tháng trước giảm 5,3% và giảm 30,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 512 triệu tấn.km, giảm 8,9% so với tháng trước và giảm 35,5% so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 34,3 triệu tấn, giảm 20,8% so với cùng năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 2.335 triệu tấn.km, giảm 22,9%so với cùng kỳ năm trước.

II. Một số vấn đề xã hội

1. Y tế và hoạt động phòng, chống dịch Covid-19

Tính đến 16/4, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã tiếp nhận trên 5 tỷ đồng tiền mặt từ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn; gần 3 tỷ đồng hiện vật, nhu yếu phẩm, vật tư y tế ủng hộ công tác phòng, chống dịch COVID-19. Điểm đặc biệt là trong số đó, có 26 doanh nghiệp FDI và cá nhân người nước ngoài tham gia ủng hộ với tổng số tiền khoảng 500 triệu đồng.

Để thực thi hiệu quả biện pháp “cách ly xã hội” theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 01/4, tỉnh Hải Dương đã lập hàng trăm chốt kiểm soát y tế triển khai trực ba ca 24/24 giờ trong tất cả các ngày với sự tham gia hàng nghìn chiến sĩ thuộc lực lượng công an, quân đội, y tế, thanh niên tình nguyện… Từ 0 giờ ngày 17/4, tỉnh Hải Dương đã tạm dừng hoạt động đa số các chốt kiểm soát phòng dịch do lực lượng liên ngành đảm nhiệm, chỉ củng cố, duy trì các chốt tỉnh lộ, quốc lộ ở địa bàn giáp ranh với tỉnh khác.

Đến nay, theo đánh giá của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 T.Ư, Hải Dương là tỉnh thuộc diện nguy cơ nhiễm Covid-19 thấp, nên công tác phòng, chống dịch bệnh được chuyển sang giai đoạn khác và việc tạm dừng hoạt động của các chốt kiểm dịch là cần thiết. Lực lượng trực chốt trở về địa phương, đơn vị sẽ tiếp tục tham gia phòng, chống dịch Covid-19 theo tình hình thực tế với sự cảnh giác cao, tuyên truyền, nhắc nhở mọi người phòng tránh nguy cơ lây nhiễm từ cộng đồng xã hội.

UBND tỉnh yêu cầu huyện, thị xã, thành phố các phường, xã trên địa bàn tăng cường công tác kiểm tra phòng, chống dịch bệnh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về phòng, chống dịch Covid-19.

Để chủ động đáp ứng nhu cầu chăm sóc, điều trị số lượng lớn bệnh nhân mắc hoặc nghi mắc Covid-19 trong tỉnh, UBND tỉnh đã có kế hoạch thành lập Bệnh viện dã chiến tại khu ký túc xá thuộc cơ sở 1 Trường Đại học Hải Dương ở xã Liên Hồng (TP Hải Dương). Bện viện có quy mô 100 giường bệnh (có thể mở rộng quy mô lên 150 giường); gồm Ban Giám đốc, 6 phòng, 7 khoa; có 15 bác sĩ, 25 điều dưỡng, y sĩ khối lâm sàng; 7 bác sĩ, kỹ thuật viên phụ trách cận lâm sàng; 3 nhân viên dược; 30 người thuộc các bộ phận hành chính, phục vụ. Việc thành lập bệnh viện dã chiến nhằm giảm tải cho các cơ sở y tế tuyến tỉnh, huyện để tập trung điều trị cho các bệnh nhân nặng; sẽ được sử dụng khi số ca mắc bệnh trong tỉnh vượt hơn 300 ca.

2. Văn hóa, thể thao

Từ chiều tối 31/3, các đội tuyển thể thao của Trung tâm Đào tạo, Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh đã tạm ngừng việc tập luyện. Huấn luyện viên và các vận động viên được về nhà nhưng yêu cầu thực hiện nghiêm quy định, khuyến cáo phòng chống dịch Covid-19 của chính quyền. Trong những ngày các đội tuyển thể thao dừng hoạt động, đơn vị này cũng cho cán bộ, viên chức, người lao động ở các phòng trực thuộc được làm việc tại nhà, trao đổi thông tin bằng điện thoại, mạng xã hội và chỉ đến cơ quan khi lãnh đạo triệu tập. Trung tâm xây dựng lịch trực lãnh đạo tại cơ quan hằng ngày để tiếp nhận chỉ đạo từ cấp trên và xử lý những việc liên quan. Công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng khuôn viên, trụ sở làm việc, hệ thống nhà tập đa năng, nhà ở của vận động viên vẫn được thực hiện thường xuyên.

3. Giáo dục

Ngày 21/4, UBND ban bành công văn số 1292/UBND-VP về việc thống nhất cho học sinh, học viên, sinh viên đi học trở lại sau thời gian nghỉ để phòng, chống dịch bệnh Covid; theo đó cho phép học sinh lớp 9 và học sinh lớp 12; học sinh, học viên, sinh viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đi học trở lại từ ngày 23/4/2020; học sinh khối trung học cơ sở và trung học phổ thông còn lại đi học trở lại từ ngày 27/4/2020; trẻ em mầm non, học sinh tiểu học toàn tỉnh đi học trở lại từ ngày 04/5/2020.

Nhằm đảm bảo công tác phòng dịch, tất cả học sinh, sinh viên, giáo viên và người lao động trong các cơ sở giáo dục phải đeo khẩu trang trên đường đến trường và trở về nhà, trong thời gian ở trường. Trong quá trình học tập ở trường, học sinh, sinh viên phải được bố trí chỗ ngồi bảo đảm khoảng cách giữa các học sinh, sinh viên tối thiểu 1,5 m; trên cơ sở đó, có thể bố trí mỗi học sinh ngồi một bàn hoặc hai học sinh ngồi một bàn hoặc ngồi so le... cho phù hợp, bảo đảm khoảng cách tối thiểu trong các hoạt động chung của học sinh, giáo viên.

Sở Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ đạo các cơ sở giáo dục tạm dừng hoạt động chào cờ đầu tuần, trải nghiệm, ngoại khóa, không tổ chức ăn bán trú cho đến khi có thông báo mới. Học sinh nào có các biểu hiện ho, sốt, ốm phải báo ngay cho nhà trường, trạm y tế, gia đình để theo dõi, giám sát và điều trị kịp thời. Các trường đều mua bổ sung máy đo thân nhiệt, lắp thêm nhiều chậu rửa tay, bố trí mỗi lớp có từ 1-2 lọ dung dịch rửa tay sát khuẩn.

4. Bảo vệ môi trường

Tháng 4/2020, trên địa bàn tỉnh phát hiện và xử lý 05 vụ vi phạm môi trường, gồm xả thải và khai thác cát trái phép, số tiền xử phạt là 645 triệu đồng. Trong đó một vụ đặc biệt nghiêm trọng là công ty TNHH giầy Ngọc Hưng thuộc cụm công nghiệp xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng có ngành nghề sản xuất kinh doanh giầy dép đã xả chất thải nguy hại ra môi trường, và đã bị cơ quan chức năng phạt 560 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 4 tháng đầu năm nay xảy ra 05 vụ cháy, nổ không bị thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 15.535 triệu đồng.

 Về tai nạn giao thông; Tính đến 15 tháng 4/2020, trên địa bàn tỉnh xảy ra 13 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 11 người, làm 05 người bị thương. Bốn tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh xảy ra 72 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 62 người, làm bị thương 22 người; so với cùng kỳ năm 2019, TNGT giảm 16 vụ (-18,2%), giảm 23 người chết (-27,1%) và giảm 20 người bị thương (-48,0%).


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2020 (29/06/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 05 năm 2020 (29/05/2020)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2020 (29/03/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2020 (27/02/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2020 (27/01/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2019 (28/12/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2019 (29/11/2019)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay39 
 Hôm qua298
 Tuần này1003 
 Tất cả647408 
IP: 18.207.108.191