Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2019
Cập nhật: 19/12/2019 04:41:12 PM
Thời tiết diễn biến thuận lợi, tạo điều kiện cho công tác làm đất gieo trồng cây vụ đông; sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn duy trì mức tăng trưởng khả quan, bình quân 10 tháng đầu năm tăng 9,5% so với cùng kỳ. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào mừng các ngày Lễ lớn và sự kiện thành phố Hải Dương được công nhận là đô thị loại I
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tháng 10 năm 2019 là tập trung thu hoạch lúa, cây hàng năm vụ mùa, gieo trồng cây rau mầu vụ đông.

1.1. Trồng trọt

Sản xuất vụ mùa năm 2019; vụ mùa năm nay diễn biến thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng phát triển, mặc dù nắng nóng hơn so với trung bình nhiều năm, nhưng có mưa xen kẽ, cây lúa sau khi gieo cấy, nông dân tích cực chăm bón nên lúa bén rễ hồi xanh nhanh, đẻ nhánh tập trung, đảm bảo số dảnh hữu hiệu, lúa tương đối tốt, đồng đều. Tổng hợp kết quả ước tính năng suất lúa vụ mùa năm 2019 đạt 56,3 tạ/ha, tăng 4,8% (+ 2,59 tạ/ha). Đến 15/9/2019, toàn bộ diện tích trà mùa trung đã trỗ bông. Những diện tích lúa đã trỗ bông đến nay tương đối thuận lợi, nếu từ nay đến cuối vụ thời tiết thuận lợi cho lúa trỗ bông và vào chắc và phòng trừ tốt sâu bệnh, dự kiến năng suất lúa vụ mùa năm nay đạt khá, đảm bảo hoàn thành kế hoạch đề ra.

Sản xuất vụ đông năm 2020; thời tiết diễn biến thuận lợi, tạo điều kiện cho công tác làm đất gieo trồng cây vụ đông. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến hết tháng 10, tổng diện tích gieo trồng cây rau mầu vụ đông của toàn tỉnh ước đạt 11.000 ha, tương đương với cùng kỳ năm trước; trong đó, cây khoai lang ước đạt 170 ha, tăng 1,8%, cây rau các loại ước đạt 9.000 ha, tương đương với cùng kỳ năm 2018.

1.2. Chăn nuôi

Trâu, bò; tại thời điểm 31/10/2019, đàn trâu ước đạt 4.190 con, tăng 1% so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 10 tháng ước đạt 406 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2018. Đàn bò có xu hướng tăng do hiệu quả chăn nuôi bò thương phẩm đạt khá nên người chăn nuôi có xu hướng mở rộng qui mô, nhiều mô hình chăn nuôi bò thương phẩm qui mô lớn được mở rộng ở nhiều địa phương. Tổng đàn bò ước đạt 21.100 con, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 10 tháng ước đạt 1.427 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Lợn; trong 10 tháng, chăn nuôi lợn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi. Đến nay, tình hình dịch tả lơn Châu Phi đã được kiểm soát, cơ bản không phát sinh ổ dịch mới, một số địa phương đã công bố hết dịch; tuy nhiên, việc tái đàn gặp khó khăn do đàn lợn giống khan hiếm, đàn lợn khôi phục chậm.

Tổng đàn lợn thịt tại thời điểm 31/10/2019 ước đạt 200.000 con, giảm 59,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng ước đạt 44.961 tấn, giảm 42,1% so với cùng kỳ năm 2018.

Gia cầm; trong tháng 10, giá gà xuất chuồng có xu hướng giảm mạnh, hiệu quả chăn nuôi gà đạt thấp; tuy nhiên, do dịch tả lợn châu phi bùng phát, chăn nuôi lợn giảm mạnh, nhiều hộ trang trại, gia trại chuyển sang nuôi gà để bù đắp chi phí thua lỗ trong nuôi lợn và duy trì quy mô chuồng trại đã xây dựng, nên đàn gia cầm tăng khá so với cùng kỳ năm 2018. Tại thời điểm 31/10/2019, tổng đàn gia cầm toàn tỉnh ước đạt 13.000 nghìn con, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó đàn gà ước đạt 9.800 nghìn con tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2018. Đàn gà được duy trì, phát triển tốt do các hộ chăn nuôi đã làm tốt công tác phòng bệnh, vệ sinh môi trường nên bệnh dịch không xảy ra. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 10 tháng ước đạt 35.000 tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng trứng ước đạt 300.000 nghìn quả, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2018.

1.3. Lâm nghiệp

Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh về việc tiếp tục đóng cửa rừng không cho khai thác trong năm 2019, nên không có sản lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên, chỉ có sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán; sản lượng khai thác củi chủ yếu là chặt cành, làm cỏ, phát quang và tận dụng thu gom khi khai thác gỗ của cây trồng phân tán... Ước tính trong tháng 10, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 300 m3, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng khai thác củi ước đạt 4.000 ster, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,5%. Củi khai thác chủ yếu là chặt cành, làm cỏ, phát quang và tận dụng thu gom khi khai thác gỗ của cây trồng phân tán.

1.4. Thuỷ sản

Trong tháng 10, sản xuất thủy sản tỉnh Hải Dương tương đối ổn định và đạt kết quả khá. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên nên dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ hơn so với cùng kỳ năm 2018; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện đặc điểm mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh; phương thức nuôi thủy sản lồng/bè được duy trì phát triển tốt, các giống cá chủ lực và giống đặc sản cho năng suất và giá trị cao được duy trì và phát triển như Trắm giòn, Chép giòn, cá Lăng, cá Rô phi đơn tính... diễn biến thời tiết trong tháng tương đối thuận lợi nhiệt độ thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nên các loài cá phát triển tốt, cho năng suất cao.

Phương thức nuôi trồng thủy sản lồng bè được duy trì và phát triển khá. lưu lượng dòng chảy ổn định tạo điều kiện tốt cho cá phát triển. Hiện nay, giống cá nuôi lồng chủ yếu là giống cá chất lượng cao như cá lăng, cá Diêu hồng, cá Trắm giòn, Chép giòn được các hộ đầu tư nuôi thả vì chất lượng cá ngon, được nhiều nhà hàng, thực khách chọn lựa.

2. Sản xuất công nghiệp

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, cộng đồng doanh nghiệp Hải Dương đã và đang ưu tiên đầu tư máy móc, dây chuyền tự động, ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Theo đó những tháng cuối năm 2019, sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn duy trì mức tăng trưởng khả quan, trong đó có nhiều ngành, nhiều sản phẩm quan trọng của tỉnh tiếp tục phát huy được lợi thế sẵn có, đẩy mạnh mở rộng sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, sản xuất công nghiệp tháng 10 của tỉnh tăng 2,0%. Cụ thể, mức tăng giảm của các nhóm ngành chính như sau: khai khoáng tăng 8,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,8%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 4,0%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải giảm 2,7%.

So với cùng kỳ, dự ước sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 10 tăng 7,1%. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 5,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà với mức tăng 5,3%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải với mức tăng 8,3%.

Tính chung 10 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp tỉnh Hải Dương 10 tháng đầu năm vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định với mức tăng 9,5%. Trong nhóm ngành chính, ngành khoai khoáng tăng 0,6%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 6,1%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 16,6%.

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng điển hình như: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 19,9%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 12,0%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 19,7%; bao bì và túi bằng giấy tăng 34,4%; sản phẩm bằng plactic còn lại chưa phân vào đâu tăng 32,2%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 31,3%; đinh, đinh mũ ghim dập (trừ ghim dập dạng mảnh) tăng 23,5%; mạch điện tử tích hợp tăng 19,6%; micro và các linh kiện của chúng tăng 24,9%; máy khâu loại dùng cho gia đình tăng 12,5%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 28,8%;...

2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2019 tăng 1,0% so với tháng trước, tăng 1,4% so với cùng kỳ, tính chung 9 tháng đầu năm tăng 0,6%. Các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng đó là: dệt tăng 21,0%; sản xuất trang phục tăng 2,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,2%; in, sao chép bản ghi tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 1,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 19,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 5,9%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 4,9%...

Các ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: khai khoáng khác giảm 10,8%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 12,0%; sản xuất đồ uống giảm 5,4%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 12,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 7,4%; sản xuất kim loại giảm 2,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 2,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 6,9%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 17,3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 8,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 11,5%; sản xuất và phân phối điện giảm 1,7%...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 9 năm 2019 đạt 183 tỷ đồng đạt 8,3% kế hoạch năm, giảm 16,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 100 tỷ đồng, đạt 8,3% so với kế hoạch năm, tăng 38,8%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện  đạt 71 tỷ đồng, đạt 8,4% kế hoạch năm, giảm 47,1%; vốn ngân sách cấp xã đạt 12 tỷ đồng đạt 8,8% kế hoạch năm, tăng 4,7%.

Ước tháng 10, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 239 tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 154 tỷ đồng, tăng 128,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 72 tỷ đồng, giảm 38,9%; vốn ngân sách cấp xã đạt 13 tỷ đồng, tăng 83,7%.

Tính chung 10 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.536 tỷ đồng, đạt 70,4% kế hoạch năm, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 822 tỷ đồng, đạt 68,6% kế hoạch năm, tăng 43,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 611 tỷ đồng, đạt 72,2% kế hoạch năm, giảm 6,7%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 103 tỷ đồng, đạt 75,4% kế hoạch năm, tăng 26,8%.

Về thu hút đầu tư, trong 10 tháng đầu năm, toàn tỉnh có 55 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép mới với số vốn đăng ký 402,6 triệu USD. Trong đó hầu hết các dự án thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo, chỉ có 1 dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ, chủ yếu của các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Samoa.

4. Thương mại, giá cả, dịch vụ

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Tháng 10 năm 2019, doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt khoảng 4.404 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,4%; tăng 14,8% so với cùng kỳ. Phân theo nhóm ngành hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất đạt 1.540 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 579 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước, tăng 11,1% so với cùng kỳ, nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, đạt 672 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 10 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 40.361 tỷ đồng, tăng 12,0% so với cùng kỳ; nếu loại trừ yếu tố giá, doanh thu  bán lẻ hàng hóa 10 tháng tăng .....%.

Phân theo nhóm ngành hàng; nhóm lương thực, thực phẩm chiếm cơ cấu lớn nhất với 34,4% trong tổng số và đạt 13.900 tỷ đồng, tăng 15,9% so với năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 5.404 tỷ đồng, chiếm 13,4% trong tổng số, tăng 11,0% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,9% trong tổng số, đạt 6.027 tỷ đồng, tăng 13,0% so với năm trước.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 10 ước đạt 800 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước; tăng 13,8% so với cùng kỳ. Trong đó; dịch vụ lưu trú đạt xấp xỉ 30 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 13,9% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 336 tỷ đồng, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ; dịch vụ tiêu dùng khác đạt 433 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 15,6% so với cùng kỳ.

Mười tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 7.554 tỷ đồng; tăng 10,0% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 272 tỷ đồng, chiếm 3,6% trong tổng số và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 3.285 tỷ đồng, chiếm 43,5% tổng số và tăng 10,0%; dịch vụ tiêu dùng khác đạt 3.987 tỷ đồng, chiếm 52,8% tổng số, tăng 10,0% so với cùng kỳ; trong đó: dịch vụ kinh doanh bất động sản tính cho tiêu dùng cuối cùng đạt 850 tỷ đồng, chiếm 11,3% trong tổng số, tăng 13,6% so với cùng kỳ; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ (trừ dịch vụ lữ hành) đạt 1.117 tỷ đồng, chiếm 14,8% tổng số, so với cùng kỳ tăng 5,9%; dịch vụ khác đạt 1.155 tỷ đồng, chiếm 15,3% tổng số, tăng 10,2% so với cùng kỳ. 

4.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 10 ước đạt 898 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,8%, tăng 10,0% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 113 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,8%, so với cùng kỳ tăng 9,6%; vận tải hàng hoá đạt 699 tỷ đồng, tăng 1,9% so với tháng trước, tăng 10,9% so với cùng kỳ.

Ước tính 10 tháng đầu năm, doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải đạt 8.505 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 9,6%; trong đó, vận tải hành khách đạt 1.133 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 12,0%; vận tải hàng hoá đạt 6.551 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 813tỷ đồng, tăng 3,3%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 10 ước đạt 2,8 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 0,5% và tăng 5,5% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 134,8 triệu hành khách.km, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 2,6% so với cùng kỳ. Mười tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 28,9 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 11,0%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 1.180,4 triệu hành khách.km tăng 10,2% so với cùng kỳnăm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 10 ước đạt 12,4 triệu tấn, so với tháng trước tăng 1,3% và tăng 6,2% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 756,2 triệu tấn.km, tăng 0,3% so với tháng trước và 5,5% so với cùng kỳ. Mười tháng đầu năm khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 113,7 triệu tấn, so với cùng năm trước tăng 8,9%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 7.628,7 triệu tấn.km, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước.

II. Một số vấn đề xã hội

1. Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Hoạt động văn hóa, nghệ thuật tháng 10 tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của tỉnh. Các chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp, văn nghệ quần chúng được tổ chức rộng khắp từ các địa phương với nội dung phong phú, đa dạng. Nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn và nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân. Một số chương trình văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu như: Kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các hoạt động chào mừng thành phố Hải Dương được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh, Đại hội Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh lần thứ V nhiệm kỳ 2019-2024…v.v

Thể thao; trong tháng từ ngày mùng 7 đến ngày 11/10, Hội nông dân tỉnh và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch vừa tổ chức thành công vòng chung kết Giải bóng chuyền Bông lúa vàng tỉnh Hải Dương lần thứ 12, cúp Agribank 2019.

Sáng 18/10, tại Nhà Thi đấu thể dục thể thao tỉnh, Ban Đại diện Hội Người cao tuổi tỉnh phối hợp Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch khai mạc Giải bóng chuyền hơi người trung, cao tuổi lần thứ III năm 2019.

Đoàn thể thao Việt Nam tham dự Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games) lần thứ 30 tại Philippines từ ngày 20/11 – 12/12/2019 có 856 thành viên. Trung tâm Đào tạo, huấn luyện và thi đấu thể thao Hải Dương có 1 huấn luyện viên và 11 vận động viên tham gia.

2. Y tế

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, 9 tháng đầu năm tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin VGBSS, BCG, bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và viêm phổi do Hib, phòng bệnh bại liệt, vắc xin sởi mũi 1 đạt chỉ tiêu kế hoạch. Tính đến thời điểm hiện tại toàn tỉnh có 15 cơ sở tiêm chủng dịch vụ tư nhân. Qua tổng hợp thống kê từ các đơn vị cho thấy 100% các cơ sở tiêm chủng dịch vụ đã đang sử dụng Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng Quốc gia và thực hiện báo cáo theo qui định. Tuy nhiên, do cán bộ thực hiện tại các cơ sở tiêm chủng không được bố trí ổn định, thường xuyên thay đổi, nên việc tập huấn cập nhật sử dụng phần mềm chưa được thường xuyên, còn gặp một số bất cập trong khi sử dụng.

Vào tháng 10, thời tiết thay đổi thất thường, các loại virus gây bệnh phát triển mạnh kéo theo nguy cơ bệnh dịch có thể bùng phát, đặc biệt là với trẻ nhỏ và người cao tuổi như: cảm cúm, sốt xuất huyết, sởi, tay chân miệng...vv

Công tác phòng chống dịch bệnh đã và đang được ngành y tế tăng cường, chỉ đạo phòng chống các bệnh truyền nhiễm theo mùa, xây dựng và triển khai kế hoạch phòng chống dịch sát với tình hình thực tế địa phương, tăng cường công tác thanh, kiểm tra VSATTP, công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức phòng chống bệnh dịch cho người dân và cộng đồng. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu y tế, hoạt động khám, chữa bệnh có chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng, nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao của tuyến TW được triển khai áp dụng tại các bệnh viện tuyến tỉnh, nhiều kỹ thuật tuyến tỉnh được triển khai áp dụng tại tuyến huyện.

3. Giáo dục

Sở Giáo dục và Đào tạo vừa lựa chọn 311 cán bộ, giáo viên cốt cán cấp tiểu học (40 cán bộ quản lý, 271 giáo viên). Đây là lực lượng nòng cốt sẽ tham gia thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa mới thời gian tới. Cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán đều là người có uy tín về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm hỗ trợ đồng nghiệp bồi dưỡng thường xuyên, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin. Họ có năng lực tốt về quản lý, kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường; tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục...

Theo Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), học kỳ II năm học này, ngành sẽ triển khai hệ thống quản lý trường học trực tuyến chung. Giai đoạn 1 từ tháng 10 – 12/2019, ngành thiết lập hệ thống mới và thực hiện chuyển đổi dữ liệu từ các phần mềm quản lý khác. Thời gian này, đưa hệ thống mới vào vận hành song song với phần mềm hiện tại và chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện. Sở GDĐT, Phòng GDĐT các huyện, thành phố phối hợp với Viettel Hải Dương tổ chức tập huấn, đào tạo cho các cơ sở giáo dục nắm bắt, vận hành hệ thống. Giai đoạn 2 chính thức thay thế toàn bộ phần mềm quản lý điểm đang sử dụng sang hệ thống mới tại địa chỉ http://qlth.haiduong. edu.vn từ học kỳ II. Việc triển khai hệ thống quản lý trường học trực tuyến chung nhằm khắc phục những hạn chế như mỗi đơn vị sử dụng một phần mềm khác nhau gây khó khăn trong tổng hợp, báo cáo, thống kê, phân tích số liệu phục vụ công tác quản lý.

4. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Tháng 10/2019, trên địa bàn tỉnh phát hiện 9 vụ vi phạm môi trường, trong đó đã xử lý 7 vụ, số tiền xử phạt là 178,2 triệu đồng. Đặc biệt là UBND tỉnh đã ra quyết định xử phạt hành chính cả người  khai thác cát trái phép và người mua tại huyện Nam Sách trên 160 triệu đồng. Tính chung 10 tháng đầu năm đã phát hiện 122 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 110 vụ với tổng số tiền phạt 1.903 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng Mười, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, nổ không có thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 55,2 triệu đồng. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, nổ làm chết  02 người thiệt hại ước tính 202.164 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Chín tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 177 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 166 người, làm bị thương 85 người; so với cùng kỳ năm 2018, số vụ TNGT tăng 19 vụ (tăng 12%), tăng 23 người chết (tăng 16,1%) và tăng 7 người bị thương (9%), trong đó: TNGT đường bộ xảy ra 166 vụ, làm 159 người chết và 81 người bị thương; TNGT đường sắt xảy ra 05 vụ, làm 07 người chết, 04 người bị thương; TNGT đường thủy nội địa xảy ra 06 vụ, không thiệt hại về người./.


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2020 (29/06/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 05 năm 2020 (29/05/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 04 năm 2020 (29/04/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2020 (29/03/2020)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2020 (27/02/2020)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2019 (29/09/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2019 (29/08/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019 (28/07/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2019 (28/06/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2019 (28/05/2019)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay102 
 Hôm qua298
 Tuần này1066 
 Tất cả647471 
IP: 18.207.108.191