Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2019
Cập nhật: 19/12/2019 04:29:03 PM
Chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi; hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 8 của tỉnh giảm 1,2% so với tháng trước; hoạt động thương mại, dịch vụ ổn định.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Tính đến hết tháng 8, tổng diện tích gieo cấy lúa vụ mùa toàn tỉnh ước đạt 57.000 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,6%, diện tích gieo trồng rau các loại trên 28.500 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, các địa phương đã gieo cấy xong diện tích lúa vụ mùa, hầu hết diện tích lúa được gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất. Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nên nông dân đã tích cực hưởng ứng phong trào gieo cấy tập trung, cùng giống, cùng thời gian. Nhiều địa phương đã hình thành thêm vùng sản xuất tập trung, diện tích lúa chất lương cao được duy trì, mở rộng. Trong tháng thời tiết khá thuận lợi, mặc dù lượng mưa lớn, tập trung, tuy nhiên do làm tốt công tác dự báo, các địa phương đã chủ động bơm, tiêu nước đệm kịp thời nên không gây ngập úng cục bộ như năm trước; cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt.

Về tình hình sâu bệnh: theo chi cục Bảo vệ thực vật, tình hình sâu bệnh năm nay phát sinh ở mức độ tương đương với cùng kỳ năm 2018, diện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn là 1.500 ha, sâu cuốn lá nhỏ 300 ha; vụ mùa năm nay diện tích bị chuột gây hại nhiều hơn so với năm 2018, theo báo cáo của các địa phương, diện tích lúa mùa bị chuột gây hại trên 800 ha (vụ mùa năm 2018 là 500 ha).

Hiện nay, nông dân đang tích cực chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ mùa (bao gồm cả cây hà, thu) để chuẩn bị tiến hành gieo trồng cây vụ đông sớm. Rau màu vụ mùa năm nay sinh trưởng, phát triển tương đối thuận lợi. Một số cây rau mầu đã cho thu hoạch, nhìn chung năng suất cao hơn cùng kỳ năm 2018.

1.2. Chăn nuôi

Trâu, bò; tại thời điểm 30/8 đàn trâu ước đạt 4.135 con, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2018. Đàn trâu giảm là do các vùng, bãi được quy hoạch chuyển đổi nhiều nên nơi chăn thả trâu ngày càng bị thu hẹp; trong khi đó, thịt trâu chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng nhu cầu sử dụng thực phẩm của người dân nên người chăn nuôi hạn chế đầu tư mở rộng sản xuất . Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tháng 8 ước đạt 42 tấn, tăng 1,2% so với  cùng kỳ năm 2018. Đàn bò có xu hướng tăng do hiệu quả chăn nuôi bò thương phẩm đạt khá nên người chăn nuôi có xu hướng mở rộng qui mô, nhiều mô hình chăn nuôi bò thương phẩm qui mô lớn được mở rộng ở nhiều địa phương. Tổng đàn bò ước đạt 19.635 con, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tháng 8 ước đạt 148 tấn, so với cùng kỳ năm 2018 tăng 0,7%.

Lợn; trong tháng 8, chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi. Đến nay, tình hình dịch tả lơn Châu Phi đã được kiểm soát, cơ bản không phát sinh ổ dịch mới, một số địa phương đã công bố hết dịch; tuy nhiên, việc tái đàn gặp khó khăn do đàn lợn giống khan hiếm, đàn lợn khôi phục chậm.

Tổng đàn lợn thịt tại thời điểm 30/8 ước đạt 130.000 con, giảm 70,1% (-305.000 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 8 ước đạt 3.190 tấn, giảm 59,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Gia cầm; tại thời điểm 30/8 tổng đàn gia cầm toàn tỉnh ước đạt 11.800 nghìn con, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó đàn gà ước đạt 9.450 nghìn con tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2018. Đàn gà được duy trì, phát triển tốt do các hộ chăn nuôi đã làm tốt công tác phòng bệnh, vệ sinh môi trường nên bệnh dịch không xảy ra. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tháng 8 ước đạt 2.600 tấn, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng trứng ước đạt 16.300 nghìn quả, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2018.

1.3. Thuỷ sản

Trong tháng 8, sản xuất thủy sản tỉnh Hải Dương tương đối ổn định và đạt kết quả khá. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện đặc điểm mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh; phương thức nuôi thủy sản lồng/bè được duy trì phát triển, các giống cá chủ lực và giống đặc sản cho năng suất và giá trị cao vẫn được duy trì và phát triển như Trắm giòn, Chép giòn, cá Lăng, cá Rô phi đơn tính... Tuy nhiên, do diễn biến của thời tiết làm dịch bệnh phát sinh gây hại nhiều hơn so với cùng kỳ năm 2018. Một số diện tích ao nuôi cá trắm cỏ bị nhiễm bệnh làm cá chết.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp của tỉnh 8 tháng đầu năm 2019 tuy vẫn duy trì mức tăng trưởng nhưng có dấu hiệu chậm lại. Những tháng cuối năm 2019, sản xuất công nghiệp của tỉnh còn phải đối mặt với nhiều thách thức khi lượng sản xuất của nhiều ngành sản xuất quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn không còn tăng cao như trước.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, sản xuất công nghiệp tháng 8 của tỉnh giảm 1,2%. Nguyên nhân chủ yếu là do tháng này bắt đầu mùa mưa bão, lượng nước đổ về các hồ thủy điện rất lớn, vì vậy trong những tháng mùa mưa thủy điện thường có ưu thế cạnh tranh hơn nhiệt điện. Cùng với đó, nhà máy nhiệt điện trên địa bàn tỉnh đang tạm ngừng sản xuất một số tổ máy để đại tu, bảo dưỡng dẫn đến sản lượng điện giảm khá sâu. Mặt khác, do lượng mưa trong tháng nhiều hơn nên ngành khai thác đá cũng như ngành xây dựng gặp khá nhiều khó khăn dẫn tới sản lượng đá khai thác và một số sản phẩm là nguyên vật liệu phục vụ cho ngành xây dựng đều có sản lượng giảm. Cụ thể, mức tăng giảm của các nhóm ngành chính như sau: khai khoáng giảm 1,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,8%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 24,2%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 1,7%.

So với cùng kỳ, dự ước sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 8 tăng 8,4% và tăng ở tất cả các nhóm ngành chính. Trong đó, ngành có mức tăng cao nhất là ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà với mức tăng 22,2%; tiếp đến là ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải với mức tăng 19,3%; ngành khai khoáng tăng 19,0% và cuối cùng là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,7%.

Tính chung 8 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng 9,4% so với cùng kỳ, trong đó ngành khoai khoáng tăng 1,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 4,1%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 18,2%.

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng điển hình như: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 16,7%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 13,6%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 21,5%; bao bì và túi bằng giấy tăng 47,8%; sản phẩm bằng plactic còn lại chưa phân vào đâu tăng 34,0%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 36,4%; đinh, đinh mũ ghim dập (trừ ghim dập dạng mảnh) tăng 29,2%; mạch điện tử tích hợp tăng 16,4%; micro và các linh kiện của chúng tăng 15,5%; máy khâu loại dùng cho gia đình tăng 7,0%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 34,3%;...

2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2019 tăng 1,2% so với tháng trước và giảm 0,4% so với cùng kỳ, tính chung 8 tháng đầu năm tăng 0,7%.

Các ngành có số lượng lao động tăng như: dệt tăng 18,7%; sản xuất trang phục tăng 1,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,2%; in, sao chép bản ghi tăng 7,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 1,0%; sản xuất thiết bị điện tăng 23,2%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 2,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 7,9%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 5,8%.

Một số ngành có số lượng lao động giảm là: khai khoáng giảm 12,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 10,6%; sản xuất đồ uống giảm 5,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 13,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 7,3%; sản xuất kim loại giảm 2,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 7,0%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 10,0%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,9%...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7 năm 2019 đạt 175 tỷ đồng đạt 8,0% kế hoạch năm, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 94 tỷ đồng, đạt 7,8% so với kế hoạch năm, tăng 25,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện  đạt 70 tỷ đồng, đạt 8,3% kế hoạch năm, giảm 21,5%; vốn ngân sách cấp xã đạt 11 tỷ đồng đạt 8,1% kế hoạch năm, tăng 20,2%.

Ước tháng 8, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 176 tỷ đồng, giảm 15,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 94 tỷ đồng, tăng 24,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 71 tỷ đồng, giảm 41,8%; vốn ngân sách cấp xã đạt 11 tỷ đồng, tăng 10,4%.

Tính chung 8 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.113 tỷ đồng, đạt 51,0% kế hoạch năm, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 568 tỷ đồng, đạt 47,4% kế hoạch năm, tăng 30,8%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 467 tỷ đồng, đạt 55,2% kế hoạch năm, tăng 16,2%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 78 tỷ đồng, đạt 57,1% kế hoạch năm, tăng 24,1%.

Tám tháng đầu năm, toàn tỉnh có 45 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép mới với số vốn đăng ký 352,2 triệu USD. Trong đó các dự án đa số thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo, chủ yếu của các nước Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Samoa.

4. Thương mại, giá cả, dịch vụ

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Trên cơ sở thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, hoạt động xúc tiến thương mại luôn được đẩy mạnh, thực hiện tốt công tác quản lý, cập nhật thông tin; mời doanh nghiệp tham gia nhiều hội chợ triển lãm, hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước.

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 8 năm 2019 ước đạt khoảng 4.231 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 2,1%; tăng 13,4% so với cùng kỳ. Phân theo nhóm ngành hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất đạt 1.483 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 544 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước, tăng 9,0% so với cùng kỳ, nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, đạt 641 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 8 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 31.626 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ; nếu loại trừ yếu tố giá, doanh thu  bán lẻ hàng hóa 8 tháng tăng 8,1%.

Phân theo nhóm ngành hàng; nhóm lương thực, thực phẩm chiếm cơ cấu lớn nhất với 34,4% trong tổng số và đạt 10.872 tỷ đồng, tăng 14,9% so với năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 4.249 tỷ đồng, chiếm 13,4% trong tổng số, tăng 10,6% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,8% trong tổng số, đạt 4.690 tỷ đồng, tăng 13,0% so với năm trước.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 8 ước đạt 786 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước; tăng 11,0% so với cùng kỳ. Trong đó; dịch vụ lưu trú đạt 29 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước, tăng 14,1% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 334 tỷ đồng, tăng 1,0%; dịch vụ tiêu dùng khác đạt 421 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước, tăng 11,5% so với cùng kỳ.

Tám tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 5.964 tỷ đồng; tăng 9,1% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 213tỷ đồng, chiếm 3,6% trong tổng số và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 2.615 tỷ đồng, chiếm 43,8% tổng số và tăng 9,6%; dịch vụ tiêu dùng khác đạt 3.128 tỷ đồng, chiếm 52,4% tổng số, tăng 8,8% so với cùng kỳ; trong đó: dịch vụ kinh doanh bất động sản tính cho tiêu dùng cuối cùng đạt 656 tỷ đồng, chiếm 11,0% trong tổng số, tăng 11,8% so với cùng kỳ; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ (trừ dịch vụ lữ hành) đạt 879 tỷ đồng, chiếm 14,7% tổng số, so với cùng kỳ tăng 4,1%; dịch vụ khác đạt 912 tỷ đồng, chiếm 15,3% tổng số, tăng 9,2% so với cùng kỳ. 

4.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 8 ước đạt 871 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 0,9%, tăng 11,4% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 111 tỷ đồng, so với tháng trước không thay đổi, so với cùng kỳ tăng 8,7%; vận tải hàng hoá đạt 674 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 13,0% so với cùng kỳ.

Ước tính 8 tháng đầu năm, doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải đạt 6.737 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 908 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 12,8%; vận tải hàng hoá đạt 5.176 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 646 tỷ đồng, tăng 4,0%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 8 ước đạt 2,7 triệu hành khách, so với tháng trước giảm 0,6% và tăng 7,1% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 109,5 triệu hành khách.km, so với tháng trước giảm 0,7% và tăng 1,2% so với cùng kỳ. Tám tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 23,3 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 12,0%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 907,4 triệu hành khách.km tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 8 ước đạt 11,2 triệu tấn, so với tháng trước tăng 0,3% và tăng 8,3% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 759,1 triệu tấn.km, không thay đổi so với tháng trước, tăng 13,8% so với cùng kỳ. Tám tháng đầu năm khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 88,5 triệu tấn, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,8%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 6.132,4 triệu tấn.km, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước.

4.4. Giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng này là 100,03%, tăng 0,03% so với tháng trước; tăng 2,29% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,88% so với bình quân cùng kỳ.

Nguyên nhân làm cho chỉ số giá tháng này cơ bản ổn định  là do giá một số mặt hàng trong nhóm lương thực, thực phẩm có xu hướng giảm, mặc dù nhóm thịt gia súc do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu phi từ những tháng trước nhưng đến nay mặc dù giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng nhưng thịt bán lẻ vẫn ổn định, nội tạng động vật có giá giảm so với tháng trước; còn với giá dịch vụ y tế áp dụng cho người có thẻ bảo hiểm y tế theo thông tư 13/2019/TT-BYT từ ngày 20/8/2019 thay thế cho Thông tư 39/2018-TT-BYT áp dụng ngày 15/12/2018 nên giá dịch vụ y tế  tháng này tăng cao, riêng chỉ số nhóm này tăng 3,06% so với tháng trước.

Ngoài ra do chính vụ nên một số nhóm hàng rau, củ có xu hướng giảm mạnh như rau muống, mồng tơi, bí xanh... nhưng một số rau thơm như thì là, mùi tăng cao, tăng gấp 3 lần so với tháng trước do nhiều diện tích bị ngập nước nên nhiều diện tích trồng các loại rau này bị hỏng. Bên cạnh đó, giá xăng dầu tăng do Nhà nước điều chỉnh, giá xăng dầu các loại đều giảm.

 Giá vàng tháng này biến động phức tạp, giá Vàng có xu hướng tăng mạnh, tăng 4,6% so với tháng trước; ngược với giá Vàng, giá Đô la Mỹ có xu hướng giảm, với mức giảm 0,2% so với tháng trước.

II. Một số vấn đề xã hội

1.Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Dịp hè 2019, Ban Chỉ đạo hoạt động hè và Chiến dịch thanh niên tình nguyện các cấp trong tỉnh đã tổ chức 114 lớp năng khiếu thể thao cho trên 3400 thiếu nhi. Thành phố Hải Dương mở nhiều lớp nhất tỉnh, gồm 45 lớp võ và 68 lớp thể thao nghiệp dư thu hút hơn 2000 thiếu nhi tham gia. Ở nhiều địa phương mở lớp dạy bơi miễn phí cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như Kinh Môn, Cẩm Giàng, Nam Sách...Các đơn vị còn tổ chức nhiều hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao như dân vũ, aerobic... Nhiều cơ sở đoàn tổ chức lớp giáo dục kỹ năng thoát hiểm khi có hỏa hoạn, sơ cấp cứu nạn, phòng chống đuối nước...cho hàng nghìn lượt thiếu nhi trong tỉnh.

Thể thao; Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng với Báo Hải Dương phối hợp tổ chức thành công Giải cờ vua các nhóm tuổi thiếu niên – nhi đồng tranh Cúp Báo Hải Dương lần thứ VII năm 2019.

 Bên cạnh đó, thể thao Hải Dương trong tháng cũng đạt được một số thành tích đáng kể, như: tại giải vô địch cử tạ trẻ quốc gia 2019, đoàn vận động viên cửa tạ trẻ Hải Dương giành được 4 huy chương vàng, 5 huy chương bạc và 3 huy chương đồng, xếp thứ tư toàn đoàn; tại giải tay súng xuất sắc quốc gia năm 2019, đoàn cũng giành được 3 huy chương vàng, 5 huy chương bạc và 2 huy chương đồng, xếp thứ 3 toàn đoàn.

2. Y tế

Để thực hiện tốt các chương trình mục tiêu về y tế, Sở y tế đã tăng cường kiểm tra và xử lý các cơ sở hành nghề dược vi phạm trên địa bàn tỉnh. Kết quả, Sở Y tế kiểm tra 62 cơ sở và xử phạt vi phạm hành chính 27 cơ sở với tổng số tiền phạt lên đến 109 triệu đồng. Sáng 27/7, tại một số nơi trên địa bàn tỉnh đã phối hợp với Hội Bác sĩ tình nguyện Hà Nội, với trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương, Trung tâm y tế của huyện đã tổ chức tư vấn sức khỏe, khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho cựu thanh niên xung phong, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ trong tỉnh. Sở y tế Hải Dương đã không ngừng tuyên truyền những thông điệp về phòng tránh dịch bệnh đến với người dân trên địa bàn tỉnh.  

Bên cạnh đó, để hưởng ứng chiến dịch nhân đạo cấp Quốc gia do Ban chỉ đạo Quốc gia vận động hiến máu tình nguyện chỉ đạo, trong cuối tháng 7 Hải Dương đã là điểm dừng chân cuối cùng của “hành trình đỏ” năm 2019. 

Ngày 31/7/2019, tại nhà Thiếu nhi tỉnh Hải Dương, Ban chỉ đạo Vận động hiến máu tình nguyện tỉnh phối hợp với Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tổ chức ngày hội hiến máu “Hải Dương ngàn trái tim hồng” 2019 và ra mắt Câu lạc bộ Ngân hàng máu sống nhắm hưởng ứng chương trình “Hành trình đỏ” năm 2019, ngoài ra chương trình còn được tiến hành tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương với sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân, không chỉ cán bộ, đoàn viên thanh niên mà nhiều người ở độ tuổi ngoài 50 vẫn hào hứng tham gia hiến máu.

Tối 9/8, Bệnh viện Đa khoa tỉnh tổ chức hội thi sân khấu hóa Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của  cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh gắn với xây dựng cơ sở y tế “xanh - sạch - đẹp”. Hội thi là hoạt động vô cùng ý nghĩa,  đẩy lùi tiêu cực, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân.

Ngoài ra nhằm “Giảm thiểu chất thải nhựa” và “Nói không với túi nilon, sản phẩm từ nhựa sử dụng 01 lần” trong hoạt động ngành y tế sẽ tăng cường sử dụng thuốc bằng đường uống; sử dụng các vật dụng sinh hoạt, các dụng cụ, vật tư, thiết bị y tế, bao bì, dụng cụ đóng gói, chứa, đựng thuốc, hóa chất làm từ vật liệu thân thiện với môi trường hoặc có thể tái sử dụng trong quá trình khám, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc người bệnh, trong hoạt động nghiên cứu, kiểm nghiệm, kiểm định và các hoạt động chuyên môn y tế khác nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải nhựa.

3. Giáo dục

Ngày 26/7/2019, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2573/QĐ-UBND về việc ban hành Kế hoạch thời gian năm học 2019 - 2020 của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Theo đó sẽ quy định ngày tựu trường, ngày khai giảng, thời gian của học kỳ I, học kỳ II, ngày kết thúc năm học của từng cấp học. Quyết định này, đã thống nhất ngày khai giảng là ngày 05/9/2019 (ngày Toàn dân đưa trẻ đến trường). Trường hợp đặc biệt, đơn vị nào thay đổi ngày khai giảng, báo cáo Phòng Giáo dục và Đào tạo (đối với trường mầm non, tiểu học, THCS), UBND cấp huyện (trung tâm GDNN-GDTX) và Sở Giáo dục và Đào tạo (đối với trường THPT).

Theo tổng hợp sơ bộ của  Sở GDĐT, năm học 2019 – 2020 toàn tỉnh có 38.339 học sinh vào lớp 1, với 1.143 lớp, giảm khoảng 4.000 học sinh và 152 lớp so với năm học trước, nguyên nhân chính là do số trẻ sinh năm 2013 (đi học đúng tuổi) giảm mạnh so với trẻ sinh năm 2012.

Ngày 13/8/2019, ngành Giáo dục và Đào tạo Hải Dương tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2018-2019 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm học 2019-2020. Tham dự Hội nghị có các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thành phố.  Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Dương Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh đã ghi nhận và biểu dương những thành tích ngành Giáo dục và Đào tạo đạt được trong năm học 2018-2019, đồng thời đưa ra  hướng thực hiện trong thời gian tới.

4. Bảo vệ môi trường

Tháng 8/2019, trên địa bàn tỉnh phát hiện và xử lý 18 vụ vi phạm môi trường, bao gồm các lỗi: thu gom nước thải không đúng nơi quy định, tiếp nhận chất thải rắn sai quy định, khai thác đất, cát trái phép. tổng số tiền xử phạt là 613,5 triệu đồng. Đặc biệt là vi phạm tại Công ty Cp Đầu tư xây dựng Trường Dương – chủ đầu tư cụm công nghiệp Lương Điền - huyện Cẩm Giàng, Công ty này không thực hiện thu gom nước thải của các Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vào hệ thống thu gom nước thải chung mà lại thu gom vào hệ thống thoát nước mưa của cụm công nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh đã có quyết định xử phạt 520 triệu đồng.

Tính chung 8 tháng đầu năm đã phát hiện 101 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 91 vụ với tổng số tiền phạt 1.642,6 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng 8, trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy, không gây thiệt hại về người, xong ước tính giá trị thiệt hại lên tới 188.400 triệu đồng; trong đó, 02 vụ cháy hộ dân tại TP Hải Dương, 01vụ cháy nhà chứa mùn cưa tại Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu gỗ Hải Dương ở xã Gia Xuyên, huyện Gia Lộc, 01 vụ cháy xưởng gỗ tại huyện Ninh Giang, 01 vụ cháy đặc biệt nghiêm trọng tại phân xưởng nhà máy của Công ty TNHH May Makalot, huyện Thanh Hà. Tính chung 8 tháng đầu năm xảy ra 15 vụ cháy, nổ không bị thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 201.209 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Tháng 7/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 11 người, bị thương 6 người (chưa bao gồm vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong ngày 23/7/2019 tại Km63+500 QL.5 thuộc xã Cộng Hòa, huyện Kim Thành làm 05 người chết, làm 02 người bị thương), trong đó có 01 vụ tai nạn giao thông đường sắt làm thương 01 người, 01 vụ tai nạn giao thông đường thủy thiệt hại tài sản khoảng 40 triệu đồng. Bảy tháng năm 2019, toàn tỉnh xảy ra 141 vụ TNGT, làm chết 126 người, bị thương 62 người; so với cùng kỳ năm 2018, tai nạn giao thông tăng 11 vụ (8,5%), tăng 6 người chết (5,0%) và giảm 9 người bị thương (-13,0%)./.



 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2019 (28/12/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2019 (29/11/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2019 (29/10/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2019 (29/09/2019)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019 (28/07/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2019 (28/06/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2019 (28/05/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2019 (28/04/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019 (28/03/2019)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay126 
 Hôm qua280
 Tuần này1642 
 Tất cả432592 
IP: 3.94.202.172