Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2019
Cập nhật: 28/07/2019 03:54:37 PM
Vì vậy, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm tuy có nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng có một số điểm sáng như sau: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP giá 2010) tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước; thu ngân sách đạt khá, thu nội địa ước đạt 62,4% dự toán năm, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước; giá trị xuất khẩu tăng 17,4%; lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, chính trị xã hội ổn định, công tác quốc phòng an ninh được củng cố vững chắc.
 

I. Kinh tế

1. Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm ước đạt 7,2%; thấp hơn mức tăng trưởng của quý I năm nay và cùng kỳ năm trước; các ngành đóng góp vào mức tăng chung cụ thể như sau:

- Ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản giảm 4,9%, làm giảm 0,6 điểm% vào tăng trưởng GRDP; trong đó, ngành trồng trọt ước giảm 4,3% tương đương giảm 300 tỷ đồng (riêng cây vải giảm 298 tỷ đồng); chăn nuôi giảm 11,0% (tương đương -284 tỷ đồng); nuôi trồng thủy sản tăng 3,3% tương đương 32 tỷ đồng; riêng hoạt động dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nên ít tác động đến tăng trưởng của ngành.

Tăng trưởng kinh tế một số năm gần đây (%)

- Ngành công nghiệp, xây dựng tăng 10,1%, đóng góp 5,8 điểm% vào tăng trưởng GRDP. Tình hình sản xuất kinh doanh nhìn chung vẫn tăng trưởng ổn định, tuy nhiên mức tăng có xu hướng chậm lại so với những tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng tăng 9,3% so với cùng kỳ. Ngành xây dựng tăng trưởng khá các nhà đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu đô thị, khu dân cư theo đúng hồ sơ thiết kế được duyệt để đảm bảo mục tiêu đầu tư, tiến độ hoàn thành của dự án đã được phê duyệt làm cơ sở đẩy nhanh tiến độ nghiệm thu đã góp phần nâng cao giá trị sản xuất của ngành.

 

- Ngành dịch vụ tăng 6,5% đóng góp 2,0 điểm% vào tăng trưởng GRDP. Doanh thu các ngành dịch vụ như vận tải, kho bãi (+7,1%), thương mại bán lẻ (+6,6%), dịch vụ tiêu dùng (+7,8%) vẫn tăng ổn định nhưng thấp hơn so với tăng trưởng năm trước.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

2.1. Sản xuất nông nghiệp

* Trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân đạt 88.854 ha, giảm 0,8%(-728 ha) so với cùng kỳ năm trước (vụ đông tăng 214 ha, vụ chiêm xuân giảm 942 ha). Trong đó, diện tích vụ đông 21.384 ha, chiếm 24,1%; vụ chiêm xuân 67.470 ha, chiếm 75,9% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân.

Trong cơ cấu diện tích gieo trồng vụ đông xuân, cây lúa chiếm tỷ trọng cao nhất đạt 65,1% (năm 2018 là 65,0%; năm 2017 là 65,4%; năm 2016 là 66,4%), tiếp đó là nhóm cây rau, đậu, hoa (27,0%), các nhóm cây còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ không đáng kể. 

                                   

 

Tổng diện tích gieo trồng vụ Chiêm xuân đạt 67.470 ha, giảm 1,4% (-942 ha) so với vụ Chiêm xuân năm 2018; trong đó, cây lương thực có hạt đạt 58.985 ha, chiếm 87,4%, giảm 1,3% (- 768 ha); cây có củ chất bột đạt 304 ha, chiếm 0,4%, giảm 2,9% (-9 ha);  cây có hạt chứa dầu đạt 909 ha, chiếm 1,4 %, giảm 4,9% (-47 ha); rau, đậu, hoa các loại đạt 6.482 ha, chiếm 9,6%, giảm 4,4% (-297 ha); các cây còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ không đáng kể.

 Năng suất lúa vụ chiêm xuân sơ bộ đạt 64,25 tạ/ha, giảm 4,1%              (-2,73 tạ/ha) so với vụ chiêm xuân trước; sản lượng đạt 371.384 tấn, giảm 5,2% (-20.213 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất giảm so với cùng kỳ năm trước là do diễn biến thời tiết không thuận cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa ở một số giai đoạn: trong thời kỳ lúa đẻ nhánh ít mưa, nhất là mưa rào nên lúa đẻ nhánh kém, bình quân số nhánh trong các khóm ít hơn cùng kỳ; thời tiết ấm nóng đã rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa nên chiều cao cây, chiều dài bông không đạt tiềm năng như các năm trước; giai đoạn lúa trổ bông, vào chắc, trời mưa, âm u ít nắng, ảnh hưởng xấu đến quá trình thụ phấn vào chắc, tỷ lệ hạt lép cao. Bệnh bạc lá phát sinh gây hại ở mức độ cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Về cây lâu năm, Tổng diện tích toàn tỉnh ước đạt 21.809 ha, tăng 0,4%   (-77 ha) so với cùng kỳ năm 2018. Trong tổng diện tích trồng cây lâu năm, diện tích trồng cây ăn quả ước đạt 21.147 ha, chiếm 97,0% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, diện tích cây gia vị, dược liệu ước đạt 83 ha, chiếm 0,4%; diện tích cây lâu năm khác ước đạt 409 ha, chiếm 1,9%, các cây lâu năm còn lại là cây lấy dầu và cây chè búp chiếm tỷ trọng nhỏ.

Cây ăn quả là cây trồng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh (chiếm 97,0%), tăng 0,8% (+157ha) so với cùng kỳ năm 2018. Một số diện tích cây lâu năm già cỗi không cho hiệu quả kinh tế như: nhãn, vải đã bị phá bỏ, một phần diện tích đã được trồng thay thế bằng những cây trồng khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn như: ổi, na, xoài, đu đủ, hồng…

Cây vải là cây lâu năm trọng điểm của tỉnh, diện tích ước đạt 10.014 ha, giảm 1,6% (-158 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm là do một số diện tích vải thiều kém hiệu quả đã được người dân chuyển sang trồng cây trồng khác có giá trị hơn như: cam đường canh, na, ổi, mít,... Bên cạnh đó, do hiệu quả kinh tế cây vải mang lại không cao; sản phẩm thu hoạch thường tập trung trong thời gian ngắn; mặt khác sản phẩm khó bảo quản, giá bán bấp bênh không ổn định cũng làm cho diện tích trồng vải giảm.

Ước tính sản lượng một số cây ăn quả chính của tỉnh đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước như: xoài sản lượng ước đạt 1.340 tấn, tương đương với cùng kỳ năm trước; chuối ước đạt 27.685 tấn, (+0,1%); ổi ước đạt 20.588 tấn (+2,4%); các cây ăn quả khác nhìn chung đều cho sản lượng cao hơn so với cùng kỳ.

Sản lượng vải ước đạt 25 - 27 nghìn tấn, so với năm trước giảm khoảng 60% (-40 nghìn tấn). Nguyên nhân sản lượng vải giảm do:

 Một là, do điều kiện thời tiết năm nay mùa đông ấm, nhiệt độ mùa đông liên tục ở vảo khoảng 19 -240C cây vải khó phân hóa mầm hoa và ra hoa. Đặc biệt là cây vải thiều đòi hỏi nhiệt độ mùa đông trong tháng 11, tháng 12 phải có 20 giờ liên tục ở nhiệt độ dưới 160C mới thuận lợi cho phân hóa mầm hoa;

Hai là, do năm 2018 cây vải được mùa nhất từ trước đến nay dẫn đến nhiều diện tích phải thu hoạch khi vải quá chín làm cho cây cạn kiệt chất dinh dưỡng, nên không thể ra lộc kịp mùa vụ dẫn đến không thể ra hoa cho vụ sau.

* Chăn nuôi

Trong 6 tháng đầu năm, chăn nuôi gia cầm tương đối ổn định, hiệu quả kinh tế đạt khá, các ngành chức năng của tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi; tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi cách chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên đàn vật nuôi; thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng trại, kết hợp tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin nên không có dịch bệnh xảy ra trên đàn gia cầm.

Đàn trâu, bò có xu hướng tăng, tại thời điểm 01/7, tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.140 con, giảm 0,3%; đàn bò ước đạt 19.600 con, tăng 1,3%  so với cùng kỳ năm trước.

Đàn lợn thịt tại thời điểm 01/7 ước đạt 260.000 con, giảm 40,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt 36.153 tấn, giảm 20,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 11.504 nghìn con, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gia cầm ước đạt 20.434 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước.

2.2. Lâm nghiệp

Ước 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước đạt 60 ha diện tích rừng trồng mới, tăng 12 ha so với năm 2018, trong đó diện tích rừng phòng hộ trồng mới là 11 ha, còn lại là diện tích rừng trồng cây keo thuộc rừng sản xuất của khu vực hộ cá thể; diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 328 ha, tăng 60 ha so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, rừng trồng được chăm sóc khu vực nhà nước là 95 ha, còn lại là diện tích rừng trồng cây keo thuộc rừng sản xuất của khu vực hộ cá thể. Do nhà nước đang thẩm định cho hoạt động khoanh nuôi tái sinh rừng nên diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 6 tháng đầu năm 2019 không phát sinh. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 2.980 ha, chủ yếu là diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.

Trong 6 tháng đầu năm, cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 355 nghìn cây, tăng 1 nghìn cây so với cùng kỳ năm 2018. Việc trồng cây đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế- xã hội, qua phong trào trồng cây, nhận thức và ý thức của cộng đồng về giữ gìn vệ sinh chung đã từng bước được thay đổi, góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước và tính đa dạng sinh học của rừng, phát huy tác dụng phòng hộ, giảm thiểu tác hại do thiên tai gây ra. Trong những năm qua do chưa chủ động được nguồn giống có chất lượng tốt nên việc lựa chọn bộ giống cây trồng còn đơn điệu, chủ yếu là trồng cây thông và cây keo. Để phục vụ công tác trồng rừng và trồng cây phân tán, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển các vườn ươm các loại giống cây lâm nghiệp và nhân giống các loại cây lấy gỗ khác. 6 tháng đầu năm 2019, tổng số cây ươm giống lâm nghiệp toàn tỉnh ước đạt 85 ngàn cây, tăng 2,4% (+2000 cây) so với vùng kỳ năm 2018, chủ yếu ở khu vực hộ cá thể.

Ước tính 6 tháng đầu năm, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng và cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.450 m3, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng khai thác củi ước đạt 22.150 ster, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,6%. Củi khai thác chủ yếu là chặt cành, làm cỏ, phát quang và tận dụng thu gom khi khai thác gỗ của cây trồng phân tán. Các sản phẩm lâm sản khác như tre, nhựa thông, măng tươi, mộc nhĩ…tăng giảm không lớn so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp toàn tỉnh.

2.3. Thủy sản

Trong 6 tháng đầu năm, sản xuất thủy sản tương đối ổn định và đạt kết quả khá. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên nên dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ hơn so với cùng kỳ năm 2018; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện đặc điểm mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh; phương thức nuôi thủy sản lồng/bè được duy trì phát triển tốt, các giống cá chủ lực và giống đặc sản cho năng suất và giá trị cao được duy trì và phát triển như Trắm giòn, Chép giòn, cá Lăng, cá Rô phi đơn tính... diễn biến thời tiết trong  6 tháng đầu năm 2019 tương đối thuận lợi nhiệt độ thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nên các loài cá phát triển tốt, cho năng suất cao.

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 38.000 tấn, tăng 3,3% (+1.198 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sản lượng thủy sản nuôi trồng.