Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2019
Cập nhật: 28/07/2019 03:52:25 PM
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhìn chung vẫn tăng trưởng ổn định, tuy nhiên mức tăng có xu hướng chậm lại so với những tháng đầu năm. Hiện nay, một số ngành sản xuất quan trọng của tỉnh như sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất xi măng, sản xuất than cốc, sản xuất và phân phối điện... có sản lượng sản xuất giảm.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

  Nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng 5 là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng vụ chiêm xuân, đặc biệt bệnh đạo ôn cổ bông, lùn sọc đen và vàng lụi, khô vằn, rầy nâu cho cây lúa; bệnh thán thư, sương mai, sâu đục cuống quả vải; đồng thời thu hoạch rau màu vụ chiêm xuân 2019.

Đến ngày 15/5 cơ bản diện tích lúa chiêm xuân trỗ thoát, trà sớm đang vào trắc dự kiến cho thu hoạch vào đầu tháng 6. Năng suất lúa vụ chiêm xuân năm 2019 ước đạt 66 tạ/ha, giảm 1,3% (-1tạ/ha) so với vụ chiêm xuân 2018; sản lượng đạt 381.500 tấn, giảm 2,4% (-9.600 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân năng suất ước giảm so với cùng kỳ năm trước là do diễn biến thời tiết năm nay không thuận cho trà lúa sớm, ít mưa, nhất là mưa rào trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển nên cây lúa sinh trưởng và phát triển kém, bình quân số nhánh trong các khóm ít hơn cùng kỳ, thời tiết ấm nóng đã rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa nên chiều cao cây, chiều dài bông không đạt tiềm năng như các năm trước.

Tổng diện tích trồng cây lâu năm toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 21.809 ha, tăng 0,4% (-77 ha) so với cùng kỳ năm 2018. Trong tổng diện tích trồng cây lâu năm, diện tích trồng cây ăn quả ước đạt 21.147 ha, chiếm 97% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, diện tích cây gia vị, dược liệu ước đạt 83 ha, chiếm 0,4%; diện tích cây lâu năm khác ước đạt 409 ha, chiếm 1,9 %, các cây lâu năm còn lại là cây lấy dầu và cây chè búp chiếm tỷ trọng nhỏ.

Cây ăn quả là cây trồng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh (chiếm 97%), tăng 0,8% (+157ha) so với cùng kỳ năm 2018. Một số diện tích cây lâu năm già cỗi không cho hiệu quả kinh tế như: nhãn, vải đã bị phá bỏ, một phần diện tích đã được trồng thay thế bằng những cây trồng khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn như: ổi, na, xoài, đu đủ, hồng xiêm, mít,…

Ước tính 6 tháng đầu năm 2019, sản lượng một số cây ăn quả chính của tỉnh đều tăng hơn so với cùng kỳ năm 2018 như: xoài sản lượng ước đạt 1.467 tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ; sản lượng chuối ước đạt  29.691 tấn, tăng  1,6% so với cùng kỳ; ổi sản lượng ước đạt 20.588 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ và cây ăn quả khác nhìn chung đều cho sản lượng  cao hơn so với cùng kỳ. Sản lượng vải ước đạt 35.000 tấn, so với năm 2018 giảm 47% (-31.000 tấn). Diễn biến thời tiết năm nay bất thuận cho cây vải sinh trưởng, phát triển, mùa đông ấm, nhiệt độ mùa đông liên tục ở vảo khoảng 19 -240C cây vải khó phân hóa mầm hoa và ra hoa.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 5 năm 2019, không có dịch bệnh xảy ra trên đàn gia cầm. Các ngành chức năng của tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi; tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi phương pháp chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên đàn vật nuôi; thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng trại, kết hợp tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin.

Tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.135 con, giảm 0,7%; đàn bò ước đạt 19.900 con, tăng 0,5%  so với cùng kỳ năm trước.

Đàn lợn thịt của toàn tỉnh ước đạt 344 nghìn con, giảm 23% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn vẫn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) đã làm nhiều hộ chăn nuôi có lợn mắc bệnh bị chết và bị tiêu hủy do dịch bệnh.

Về tình hình phòng, chống DTLCP, tính đến ngày 15/5 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra dịch ở 12/12 huyện, thị; tại 254/265 xã, phường, thị trấn. Dịch bệnh tiếp tục lây lan diện rộng và diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất chăn nuôi lợn và kinh tế của người dân. Số lượng lợn phải tiêu hủy 247.954 con (trong đó, lợn nái là 38.205 con; lợn đực giống là 166 con; lợn thịt là 136.969 con và lợn con là 72.523 con) chiếm khoảng 1/3 tổng đàn; tổng trọng lượng tiêu hủy khoảng 15.582 tấn bằng 32,9% sản lượng thịt lợn hơi (bằng 23,8% sản lượng thịt hơi xuất chuồng).

Hiện nay, ngân sách địa phương đã chi gần 600 tỷ đồng phục vụ công tác phòng chống bệnh dịch; trong đó, hơn 90% số tiền dùng để hỗ trợ người chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy.

Đàn gia cầm ước đạt 11.400 nghìn con, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số đàn gia cầm, gà là loại vật nuôi chủ yếu trong nhóm gia cầm, đàn gà đạt 9.171 nghìn con, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm trên 80% tổng đàn gia cầm.

Hiện nay, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên đàn gà, cùng với giá thức ăn chăn nuôi giảm nên hiệu quả chăn nuôi gà đạt khá, nhiều hộ chăn nuôi mạnh đầu tư mở rộng quy mô nuôi nhằm đáp ứng thị trường tiêu thụ nhất là loại hình trang trại và gia trại. Mặt khác do hiệu quả chăn nuôi lợn giảm mạnh nên nhiều hộ trang trại, gia trại chuyển sang nuôi gà để bù đắp chi phí thua lỗ trong nuôi lợn và duy trì quy mô chuồng trại đã xây dựng.

1.3. Thuỷ sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản trong tháng 5 vẫn duy trì ổn định và phát triển khá. Hiệu quả nuôi trồng thủy sản khá ổn định, giá bán sản phẩm đầu ra tương đối ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, giá thức ăn có xu hướng giảm nhẹ, nên diện tích nuôi trồng sau khi thu hoạch xong các hộ tập trung tu sửa, nạo vét ao nuôi và thả giống nuôi vụ mới.

Trong tháng thời tiết ấm, có mưa rào đầu mùa là điều kiện tốt cho sinh trưởng và phát triển của cá; vì vậy, việc thu hoạch cá thương phẩm và thả giống nuôi vụ mới không gặp khó khăn. Việc nuôi cá lồng trên sông vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển, với các chủng loại gống đa dạng như Diêu hồng, Rô phi đơn tính, Trắm cỏ, Cá chép nuôi giòn, cá Lăng... Số lồng nuôi cơ bản thu hoạch xong cá thương phẩm, các hộ đã thả giống nuôi vụ mới, đến nay các lồng nuôi đã cơ bản thả đủ lượng giống, cá sinh trưởng và phát triển tốt.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhìn chung vẫn tăng trưởng ổn định, tuy nhiên mức tăng có xu hướng chậm lại so với những tháng đầu năm. Hiện nay, một số ngành sản xuất quan trọng của tỉnh như sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất xi măng, sản xuất than cốc, sản xuất và phân phối điện... có sản lượng sản xuất giảm.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,5%; cụ thể mức tăng như sau: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo +2,1%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà +13,3%; cung cấp nước, xử lý nước, rác thải +0,5%; riêng công nghiệp khai khoáng -7,9%. Sản xuất công nghiệp tháng 5 nhìn chung không có nhiều biến động, đại đa số các ngành đều đã có kế hoạch sản xuất ổn định, ngoại trừ một số ngành do ảnh hưởng của yếu tố thời tiết, mùa vụ mà có lượng sản xuất tăng cao.

So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 tăng 8,6%. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 11,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 14,9%; riêng ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 5,4%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp +9,0% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo +11,8%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải +21,9%; hai ngành khai khoáng và sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng... có chỉ số giảm với tỷ lệ tương ứng là   -9,3% và -7,1%.

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng là: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc +16,3%; áo sơ mi cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc +14,7%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác +13,1%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài +25,1%; bao bì đóng gói khác bằng plastic +6,6%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu +40,0%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng +8,9%; thép hợp kim cán mỏng đã được dát, phủ, mạ hoặc tráng +8,4%; đinh, đinh mũ, ghim dập +41,8%; mạch điện tử tích hợp +22,9%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác +14,5%; dây dẫn điện dùng cho hiệu điện thế <=1000V +16,7%; máy khâu loại dùng cho gia đình +4,7%; xe có động cơ chở được 05 người trở lên chưa được phân vào đâu +12,0%; bộ đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ +38,3%; bộ phận thiết bị điện khác dùng cho xe có động cơ +14,2%...

2.2. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5 tăng 1,3% so với tháng trước; tăng 1,1% so với cùng kỳ; tính chung 5 tháng đầu năm tăng 1,7%.

Các ngành có lượng sử dụng lao động tăng là: dệt tăng 17,5%; sản xuất trang phục tăng 1,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,9%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 8,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 1,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 30,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 3,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,9%.

Các ngành có lượng sử dụng lao động giảm là: khai khoáng giảm 13,9%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 4,7%; sản xuất đồ uống giảm 6,9%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa... giảm 1,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 1,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 13,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 7,1%; sản xuất kim loại giảm 2,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 4,9%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 7,3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 2,7%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 5,7%; sản xuất và phân phối điện giảm 3,2%...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4 là 147 tỷ đồng, đạt 6,7% kế hoạch năm, tăng 50,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 78 tỷ đồng, đạt 6,5% so với kế hoạch năm, tăng 39,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện  đạt 59 tỷ đồng, đạt 7,0% kế hoạch năm; vốn ngân sách cấp xã đạt 10 tỷ đồng đạt 7,2% kế hoạch năm.

Ước tháng 5, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 157 tỷ đồng, tăng  25,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 82 tỷ đồng , tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 64 tỷ đồng, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách cấp xã đạt 11 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 5 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 600 tỷ đồng, đạt 27,5% kế hoạch năm, tăng 65,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 294 tỷ đồng (+43,0%), đạt 24,6% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 261 tỷ đồng (+118,8%), đạt 30,8% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 45 tỷ đồng (+32,8%), đạt 32,9% kế hoạch năm.

Một số công trình đang thực hiện như: Cải tạo, nâng cấp đường 389B (Km0 - Km 12) đoạn từ cầu An Lưu 2 đến đường 389, huyện Kinh Môn (tổng mức đầu tư là 100 tỷ đồng); Xây dựng và cải tạo hệ thống kênh trung thủy nông Cẩm Đông - Phí Xá, huyện Cẩm Giàng (tổng mức đầu tư 150 tỷ đồng); Trung tâm văn hóa xứ Đông (tổng mức đầu tư 648 tỷ đồng), Tu bổ bờ kênh trục Bắc Hưng Hải; nạo vét kênh dẫn và cải tạo, nâng cấp một số trạm bơm trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016- 2020 (tổng mức đầu tư 220 tỷ đồng);...

Dự kiến trong 6 tháng cuối, một số công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục được đầu tư như: cầu Mây - Đường tỉnh 389 (Tổng mức đầu tư 348 tỷ đồng); xây dựng tuyến kết nối đường tỉnh 396 - huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) với đường huyện 80 - huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (tổng mức đầu tư 19 tỷ đồng); xây dựng một số đoạn tuyến thuộc đường gom phía Bắc Quốc lộ 5 đoạn đi qua thành phố Hải Dương (từ K51+035-K54+205) (tổng mức đầu tư 22 tỷ đồng); đường hạ tầng du lịch vào chùa Huyền Thiên, Chí Linh (tổng mức đầu tư 50 tỷ đồng)....

4. Thương mại, dịch vụ

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 5 năm 2019 ước đạt 3.923 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,5%; tăng 10,9% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 2.459 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.390 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 74 tỷ đồng, tăng 7,4% so cùng kỳ với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất đạt 1.342 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, đạt 580 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 530 tỷ, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 11,0% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hoá 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 19.220 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 12.081 tỷ đồng, chiếm 62,9% và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 6.777 tỷ đồng, chiếm 35,3% và tăng 9,7%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 362 tỷ đồng, chiếm 1,8%, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất với 34,0% trong tổng số và đạt 6.538 tỷ đồng, tăng 13,1% so với năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,7% trong tổng số, đạt 2.831 tỷ đồng, tăng 13,3% so với năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.632 tỷ đồng, tăng 11,0% so với cùng kỳ.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 5 ước đạt 847 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước; tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 536 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 7,4% so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân đạt 255 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 5,7% so với cùng kỳ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 40 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 5,6% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 27 tỷ đồng, tăng 5,3% so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 6,6%; dịch vụ ăn uống đạt 330 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước, tăng 8,0% so với vùng kỳ; dịch vụ khác đạt 489 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 6,3% so với cùng kỳ.

  Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 4.180 tỷ đồng; tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 2.602 tỷ đồng, chiếm 62,3% và tăng 8,4% so với năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.303 tỷ đồng, chiếm 31,2% và tăng 6,5%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 194 tỷ đồng, chiếm 4,6% và tăng 4,5% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 124 tỷ đồng, chiếm 3,0% trong tổng số và tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 1.611 tỷ đồng, chiếm 38,5% tổng số và tăng 8,9% so với cùng kỳ; dịch vụ khác đạt 2.440 tỷ đồng, chiếm 58,4% tổng số, tăng 7,0% so với cùng kỳ. 

4.3. Vận tải

Nhìn chung, tình hình hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 5 ước đạt 874 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 2,5%, tăng 11,7% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 114 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 2,0%, so với cùng kỳ tăng 12,7%; vận tải hàng hoá đạt 678 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước, tăng 12,2% so với cùng kỳ.

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải 5 tháng đầu năm đạt 4.136 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 555 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 10,6%; vận tải hàng hoá đạt 3.177 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 404 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 5 ước đạt 2,9 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 0,4% và tăng 12,3% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 113,8 triệu hành khách.km, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 14,6 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 10,9%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 567,2 triệu hành khách.km tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 5 ước đạt 11,6 triệu tấn, so với tháng trước tăng 2,1% và tăng 10,5% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 788,9 triệu tấn.km, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 55,1 triệu tấn, so với cùng năm trước tăng 8,2%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 3817,7 triệu tấn.km, tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước.

5. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 tăng 0,63% so với tháng trước, tăng 1,55% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân làm cho chỉ số giá tháng này tăng 0,63% so với tháng trước chủ yếu do giá điện, nước, xăng dầu, ga đun tăng nên đã làm cho chỉ số giá tháng này tăng.

Nhóm hàng thực phẩm tiếp tục giảm (tháng thứ 3 liên tiếp) -0,14% do giá thịt lợn hơi giảm giá. Dự báo giá thịt lợn hơi sắp chạm “đáy” do nguồn cung đã bắt đầu có dấu hiệu khan hiếm, trong khi nhu cầu tiêu dùng thịt lợn đã ổn định trở lại.

Bình quân 5 tháng đầu năm CPI tăng 2,97% so với bình quân cùng kỳ năm trước; trong đó, các nhóm mặt hàng: thực phẩm (+5,85%); ăn uống ngoài gia đình (+10,36%); dịch vụ giáo dục (+11,64%) tăng giá lớn nhất góp phần đẩy CPI lên khá cao.

II. Một số vấn đề xã hội

1.Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Vòng Chung kết Cuộc thi sáng tạo Robot Việt Nam năm 2019 diễn ra từ ngày 07/5-12/5 tại Nhà thi đấu Thể dục Thể thao tỉnh. Tham gia cuộc thi có 32 đội đại diện cho các trường Đại học, Cao đẳng chuyên ngành kỹ thuật trong cả nước với 224 thí sinh. Đây là những đội tuyển xuất sắc vượt qua các trận đấu của vòng loại khu vực phía Bắc và phía Nam diễn ra vào tháng 4 để giành quyền đi tiếp vào vòng chung kết. Kết thúc đêm chung kết vào tối ngày 12/5, đội vô địch là LH-WAO (Đại học Lạc Hồng) đã giành vé tới cuộc thi Robocon châu Á - Thái Bình Dương vào tháng 8 tới; giải nhì thuộc về đội SKH3 (Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên); đồng giải ba thuộc về đội SAO ĐỎ Legend (Đại học Sao Đỏ) và DCN - ĐT3 (Đại học Công nghiệp Hà Nội).

Thể thao; Từ ngày 4 - 10/5, Bộ Chỉ huy quân sự  tỉnh tổ chức Hội thao thể thao quốc phòng giai đoạn 1 năm 2019; giải thu hút gần 300 vận động viên (VĐV) là cán bộ, chiến sĩ lực lượng thường trực đến từ 16 đầu mối cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang tỉnh. Các VĐV thi đấu các môn: bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông và quần vợt.  Đây là dịp để tuyển chọn những vận động viên thành tích cao tham gia Hội thao thể dục thể thao quốc phòng năm 2019 do Quân khu 3 tổ chức.

Sáng 15/5, tại hồ Bạch Đằng (TP. Hải Dương), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch khai mạc Giải vô địch đua thuyền chải tỉnh Hải Dương năm 2019. Giải thu hút 150 tay chèo nam, nữ đến từ 7 đội đua thuyền chải trong tỉnh. Các tay chèo tham gia tranh tài ở 7 nội dung thi đấu.

2. Y tế

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật từ 8-12/5 trên địa bàn tỉnh ghi nhận 27 trường hợp sốt phát ban trong đó có 16 trường hợp dương tính với virus sởi. Bệnh xuất hiện rải rác ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh như: Minh Đức (Tứ Kỳ); thị trấn Gia Lộc (Gia Lộc); Vĩnh Hòa (Ninh Giang)…hầu hết chưa đến tuổi tiêm vắc xin phòng sởi. Đáng chú ý đã xuất hiện 01 ổ dịch sởi tại Trường tiểu học Tân Hương (huyện Ninh Giang) với 13 ca mắc trong đó 11 học sinh và 02 cô giáo. Ngoài bệnh sởi đã ghi nhận thêm một số bệnh khác như: ho gà (1 ca), quai bị (1 ca) và 5 ca mắc tay chân miệng.

Hưởng ứng tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường năm 2019 với chủ đề “Cấp nước an toàn vì sức khỏe cộng đồng”, Trung tâm y tế TP Hải Dương đã đẩy mạnh công tác thông tin-giáo dục-truyền thông tới cộng đồng dân cư với các nội dung: Phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, treo băng rôn, khẩu hiệu, phát tờ rơi, huy động sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể địa phương; vận động nhân dân tích cực làm tốt vệ sinh môi trường, phát quang bụi rậm quanh nhà, khai thông các ổ nước đọng, cống rãnh để loại trừ nơi trú ngụ của muỗi, tổng vệ sinh đường phố, ngõ xóm, xây dựng nếp sống vệ sinh, gia đình văn hóa gắn với phong trào “Làng văn hóa sức khỏe”, vận động nhân dân xây dựng các công trình như nhà tiêu, nhà tắm, các công trình cấp thoát nước đảm bảo vệ sinh…

 3. Giáo dục

Tỉnh Hải Dương sẽ thành lập 34 điểm thi THPT quốc gia năm 2019 tại các cơ sở giáo dục trong tỉnh; số lượng và địa điểm thi năm nay cơ bản ổn định như năm 2018. Có 6 điểm thi có thí sinh của 1 cơ sở giáo dục, 18 điểm thi gộp thí sinh của 2 cơ sở giáo dục và 10 điểm thi gộp thí sinh của 3 cơ sở giáo dục. Những điểm thi có thí sinh của 1 cơ sở giáo dục là do địa bàn tách biệt xa các cơ sở giáo dục khác hoặc có số lượng thí sinh lớn như các Trường THPT: Cầu Xe (Tứ Kỳ), Hoàng Văn Thụ, Hồng Quang (TP Hải Dương), Bến Tắm (TP Chí Linh), Đồng Gia (Kim Thành) và Thanh Miện III.

Từ ngày 15 - 22/5, các trường THPT công lập của tỉnh bắt đầu tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự thi vào lớp 10; chiều 23/5, các trường nộp danh sách đăng ký dự thi, báo cáo số lượng thí sinh, số phòng thi. Năm học 2019 - 2020, chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 THPT của tỉnh là 15.052 học sinh, với 361 lớp.

4. Bảo vệ môi trường

Theo Hạt Quản lý đê TP. Hải Dương, trên địa bàn thành phố hiện có 28 bến bãi chứa nguyên vật liệu xây dựng, tập trung ở các xã, phường như Nam Đồng, Cẩm Thượng, Nhị Châu, Việt Hòa... Chỉ có 2 bãi chứa vật liệu ở các phường Bình Hàn và Việt Hòa có giấy phép hoạt động, còn lại hoạt động không phép hoặc giấy phép đã hết hạn. Hạt Quản lý đê TP Hải Dương đã hướng dẫn chủ các bến bãi hoàn thiện hồ sơ để được cấp phép. Đồng thời yêu cầu chủ các bến bãi dừng mọi hoạt động, di chuyển máy móc, trang thiết bị, giải tỏa toàn bộ vật liệu, vật cản lũ... xong trước ngày 15/6.

Trong tháng 5, cơ quan chức năng đã phát hiện 16 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 13 vụ với tổng số tiền phạt 229,8 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm đã phát hiện 50 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 41 vụ với tổng số tiền phạt 783,3 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng 5/2019 trên địa bàn tỉnh không xảy ra  vụ cháy, nổ nào. Tính chung 5 tháng đầu năm xảy ra 05 vụ cháy, nổ không bị thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 2.399 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Tháng 4/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 32 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 26 người, bị thương 15 người , trong đó có 1 vụ tai nạn giao thông đường sắt làm chết 02 người. Bốn tháng đầu năm 2019, xảy ra 88 vụ, làm 85 người chết và 42 người bị thương; so với cùng kỳ năm 2018, tai nạn giao thông tăng 2 vụ (2,3%), tăng 6 người chết (7,6%) và giảm 3 người bị thương (-7,0%)./.


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019 (28/07/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2019 (28/06/2019)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2019 (28/04/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019 (28/03/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2019 (28/02/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019 (25/01/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2018 (27/12/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay104 
 Hôm qua230
 Tuần này104 
 Tất cả396495 
IP: 18.232.171.18