Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019
Cập nhật: 28/03/2019 09:22:26 AM
Về kinh tế, cây trồng sinh trưởng ổn định, tình hình tiêu thụ nông sản cơ bản thuận lợi, mặc dù giá bán bình quân các loại rau vụ đông năm nay đều giảm, nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho người dân; sản xuất công nghiệp có mức tăng khá, thu hút đầu tư duy trì ở mức cao; thu ngân sách đạt khá. Về xã hội, lĩnh vực văn hóa, giáo dục có nhiều tiến bộ; an ninh trật tự ổn định.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tiếp tục chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bố trí cơ cấu giống phù hợp diễn biến thời tiết và tín hiệu thị trường, tăng cường kiểm soát dịch bệnh; chú trọng mở rộng các mô hình sản xuất an toàn, các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo hình thức “cánh đồng mẫu lớn”, “cánh đồng liên kết” và “mỗi xã một sản phẩm”.

1.1. Trồng trọt

Vụ đông năm 2019, toàn tỉnh gieo trồng được 21.384 ha, đạt 99,5% so với kế hoạch (KH 21.500 ha), tăng 1,0% (+214 ha) so với vụ đông năm 2018. Một số cây trồng vụ đông năm nay có diện tích gieo trồng tăng cao so với vụ đông năm 2018 như: hành củ (+617 ha), rau sa lát (+98 ha), su hào (+79 ha), cà chua (+66 ha), củ đậu (+62 ha), bầu (+44 ha),  rau cần (+43 ha)....

Cơ cấu cây trồng vụ đông năm 2019 tiếp tục được dịch chuyển tích cực theo hướng mở rộng diện tích cây rau đậu có giá trị kinh tế cao, dễ tiêu thụ, quy vùng sản xuất hàng hoá tập trung theo nhu cầu thị trường, nhất là cung cấp cho các thành phố lớn và khu vực miền trung. 

Tình hình tiêu thụ nông sản vụ đông năm nay cơ bản thuận lợi. Mặc dù giá bán bình quân các loại rau vụ đông năm nay đều giảm hơn so với cùng kỳ năm 2018, nhưng người dân vẫn có lãi; sau khi trừ chi phí, ước tính thu nhập một sào bắp cải, su hào, súp lơ giao động từ 4 đến 5 triệu đồng/sào. Nhiều loại cây trồng đạt khá cả về sản lượng và giá trị như cây su hào, bắp cải, cà chua, hành hoa,....

Sản xuất vụ chiêm xuân năm nay có những thuân lợi cơ bản đó là thời tiết nắng ấm, không có rét hại, nguồn nước đổ ải dồi dào, đồng thời các địa phương đã sớm chủ động bơm nước đổ ải, làm đất nên hầu hết diện tích lúa, rau mầu được gieo trồng trong khung thời vụ tốt nhất.

Đến nay, toàn tỉnh đã gieo trồng xong diện tích lúa và cây rau mầu vụ chiêm xuân; tổng diện tích gieo trồng ước đạt 67.600 ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, diện tích lúa chiêm xuân ước đạt 57.660 ha; rau, màu vụ xuân ước đạt 9.940 ha.

1.2. Chăn nuôi

Chăn nuôi gia cầm trong tỉnh ổn định, không xẩy ra dịch bệnh nên đàn  gia cầm phát triển tốt. Riêng chăn nuôi lợn gặp khó khăn do dịch lở mồm long móng và dịch tả lợn châu Phi xuất hiện ở một số địa phương gây thiệt hại cho người chăn nuôi.

Tổng đàn lợn thịt của toàn tỉnh ước đạt 437.000 con, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, đàn lợn có xu hướng giảm, do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu phi, tình hình tiêu thụ lợn hơi gặp khó khăn, người chăn nuôi sản xuất cầm chừng, không mạnh dạn đầu tư tái đàn nên đàn lợn thịt có xu hướng giảm.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 12.300 nghìn con, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước.         

Tổng đàn trâu trên địa bàn tỉnh tiếp tục có xu hướng giảm, do hiệu quả chăn nuôi thấp, nhu cầu dùng sức trâu để cày kéo trong sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.100 con, giảm 1,2%; Đàn bò ước đạt 21.800 con, tăng 3,3%  so với cùng kỳ năm trước.

Về diễn biến dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh, tính đến 22/3, đã xuất hiện dịch ở 29 xã của 7 huyện, gồm: Tứ Kỳ, Ninh Giang, Gia Lộc, Thanh Miện, Bình Giang, Kim Thành và Kinh Môn; trong đó, huyện Ninh Giang có 13 xã, nhiều nhất tỉnh. Lực lượng chức năng đã tiêu hủy gần 1.400 con mắc bệnh (chiếm 0,28% tổng đàn) với tổng trọng lượng gần 80 tấn (chiếm 0,31% sản lượng thịt hơi xuất chuồng).

Ngày 21/3, UBND tỉnh có quyết định phê duyệt mức hỗ trợ cho người nuôi có lợn buộc phải tiêu hủy để phòng chống bệnh dịch, theo đó, hỗ trợ 32.000 đồng/kg lợn hơi đối với lợn con, lợn thịt các loại; 52.000 đồng/kg lợn hơi đối với lợn nái, lợn đực giống đang khai thác. Thời điểm áp dụng mức hỗ trợ sau 3 ngày kể từ ngày quyết định này có hiệu lực; đối với khối lượng lợn phải tiêu hủy trước thời điểm áp dụng mức hỗ trợ trên được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 9/1/2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do dịch bệnh.

1.3. Lâm nghiệp

Trong quý I, toàn tỉnh đã trồng được trên 325.000 cây, những huyện có số lượng cây trồng nhiều như Chí Linh, Thanh Hà, Kinh Môn. Cây phân tán chủ yếu được trồng trong dịp đầu xuân, trồng tập trung ở các khu đô thị mới, công viên, công sở, trường học, các khu di tích, danh lam thắng cảnh, quanh bãi rác, đường làng, đường trục ngoài cánh đồng, các trang trại; các giống cây được trồng chủ yếu: sấu, bạch đàn, keo, long lão...

1.4. Thuỷ sản

Tình hình nuôi trồng thuỷ sản phát triển ổn định, công tác vệ sinh ao nuôi và phòng trừ dịch bệnh được duy trì thường xuyên nên cơ bản dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ, rải rác. Diện tích nuôi trồng thủy sản mặt nước được duy trì ổn định, với diện tích hiện có đang nuôi trồng thủy sản quý I ước đạt trên 11.000 ha, tương đương với cùng kỳ năm 2018; Phương thức nuôi lồng bè tiếp tục được duy trì và mở rộng sản xuất. Hiện nay, toàn tỉnh ước đạt trên 4.000 lồng nuôi cá; tổng thể tích nuôi ước đạt 466.000 m­3. Phương thức nuôi lồng bè đem lại hiệu quả kinh tế khá, tuy nhiên người nuôi trồng thủy sản đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thấp, trong khi nguồn cung lại dồi dào do hầu hết các ao nuôi đang trong thời kỳ cho thu hoạch. Sản lượng thủy sản nuôi trồng, khai thác quý I ước đạt 19.000 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ 2018.

2. Sản xuất công nghiệp

Năm 2019 khởi đầu với nhiều yếu tố tích cực đến từ kinh tế trong nước và thế giới, tạo tiền đề để các doanh nghiệp của tỉnh tiếp tục hồi sức, bứt phá nhanh hơn. Sản xuất công nghiệp của tỉnh những tháng đầu năm nay đã đạt được kết quả tích cực.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

Tính theo phương pháp chỉ số, hoạt động sản xuất công nghiệp trong tỉnh tăng khá, cụ thể như sau:

Do năm nay thời gian nghỉ lễ kéo dài nằm trọn trong tháng 2; đồng thời, tháng 2 cũng là tháng có số ngày trong tháng thấp nhất năm, vì vậy sản xuất công nghiệp tháng 3 so với tháng trước tăng khá cao (+20,1%); trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí, tăng 48,3%.

So với cùng kỳ, sản xuất công nghiệp tháng 3 tăng 10,3%; trong đó ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải là ngành có mức tăng cao nhất với mức tăng 16,5%; tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,3%; ngành khai khoáng và ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà đều có lượng sản xuất giảm với mức giảm lần lượt là 23,6% và 0,1%.

Tính chung quý I, sản xuất công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,6%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 16,5%; hai ngành còn lại có chỉ số giảm là ngành khai khoáng giảm 21,2% và ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 3,0%.

Với các sản phẩm có lượng sản xuất tăng như bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket,… cho người lớn tăng 7,2%; Áo phông (T-shirt), may ô người lớn tăng 21,7%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 26,3%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa phân vào đâu tăng 46,24%; đinh, đinh mũ, ghim dập (trừ ghim dập dạng mảnh) tăng 47,6%; mạch điện tử tích hợp tăng 30,5%; micro và các linh kiện của chúng tăng 12,8%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 12,3%; dây dẫn điện dùng cho hiệu điện thế <=1000V tăng 15,5%; máy khâu loại khác trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình tăng 5,85%; máy khâu loại dùng cho gia đình tăng 7,48%; xe có động cơ tăng 34,68%; bộ phận thiết bị điện khác dùng cho xe có động cơ tăng 9,43%; nước uống được tăng 15,5%;…

Tuy nhiên bên cạnh thuận lợi, sản xuất công nghiệp tỉnh ta cũng còn phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Nhiều ngành sản xuất tăng trưởng nhưng không đồng đều, phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố bên ngoài và khu vực FDI. Trong khi đó, sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp nội còn nhiều vấn đề, thiếu vốn, thiếu công nghệ và lao động có tay nghề; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Khu vực sản xuất công nghiệp thiếu những nhân tố gây đột phá, có thể tạo điểm nhấn tăng trưởng. Vì vậy, các ban ngành cần chung tay khắc phục, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần đưa ngành công nghiệp của tỉnh nhà tiếp tục phát triển ổn định và bền vững.

2.2. Chỉ số tiêu thụ

Theo xu hướng sản xuất, tình hình tiêu thụ sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3 tăng 22,5% so với tháng trước; tăng 14,6% so với cùng kỳ; tính chung 3 tháng đầu năm tăng 13,3%. Nhiều ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: dệt tăng 59,7%; sản xuất trang phục tăng 11,5%; sản xuất da và các sản phẩm da có liên quan tăng 24,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 25,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 45,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 23,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học tăng 29,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 11,8%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 21,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 29,7%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 12,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 29,0%...

2.3. Chỉ số tồn kho

Chỉ số tồn kho tại thời điềm 01/4/2019 giảm 7,6% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tồn kho giảm là: dệt giảm 43,4%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 29,8%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 21,3%; sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế giảm 6,8%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm hoá chất giảm 24,2%; sản xuất thuốc, hoá dược, dược liệu giảm 9,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic giảm 2,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 18,9%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 41,7%; công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 21,0%.

Các ngành có chỉ số tồn kho tăng là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22,2%; sản xuất đồ uống tăng 38,3%; sản xuất trang phục tăng 23,0%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 24,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 43,3%; sản xuất kim loại tăng 25,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học tăng 32,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 11,7%.

2.4. Chỉ số sử dụng lao động

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2019 tăng 2,4% so với tháng trước, tăng 3,9% so với cùng kỳ, tính chung 3 tháng đầu năm tăng 3,0%. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: dệt tăng 10,9%; sản xuất trang phục tăng 3,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plactic tăng 2,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 1,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 35,8%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 3,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,4%...

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I năm 2019 đạt 296 tỷ đồng, chiếm 13,6% kế hoạch năm; tăng 110,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 135 tỷ đồng, chiếm 11,3% kế hoạch năm, tăng 58,8%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 137 tỷ đồng, chiếm 16,1% kế hoạch năm, tăng 269,9%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 24 tỷ đồng, chiếm 18,0% kế hoạch năm, tăng 28,7%.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý I năm 2019 ước đạt 9.161 tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước: trong đó, vốn nhà nước trên địa bàn đạt 966 tỷ đồng, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước đạt 5.179 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 3.016 tỷ đồng, tăng 32,9% so với cùng kỳ năm trước.

Về thu hút đầu tư trong nước, Đã chấp thuận đầu tư cho 27 dự án và điều chỉnh cho 9 dự án đầu tư trong nước có nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, với số vốn thu hút đầu tư 3.570 tỷ đồng (tăng trên 3 lần so với cùng kỳ năm trước), đã thu hút được một số dự án có vồn đầu tư khá (sản xuất đồ nội thất của Công ty Tân Hoàng Minh Hải Dương; đầu tư, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Kenmax – Việt Hòa của Công ty An Phát). Thông báo thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với 10 dự án.

Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu hút đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh đạt 340 triệu USD tăng 44% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cấp mới cho 26 dự án với số vốn đăng ký 280 triệu USD, điều chỉnh tăng vốn đầu tư cho 7 lượt dự án với số vốn tăng thêm 60 triệu USD. Tổng vốn đầu tư thực hiện trong 3 tháng đầu năm ước đạt khoảng 130 triệu USD, bằng cùng kỳ năm 2018;, tổng vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp FDI tại địa bàn đạt 4.750 triệu USD. Hoàn thành việc xử lý đối với khu công nghiệp Kenmax-Việt Hòa, cấp giấy phép đầu tư cho nhà đầu tư mới.

Trong 3 tháng đầu năm 2019 nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo chiếm 84,2%, dịch vụ 15,8% tổng vốn đầu tư; có 8 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại địa bàn.

Thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh đầu năm 2019 đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế cụ thể như các dự án địa bàn tỉnh đa phần là các dự án có quy mô vốn nhỏ và trung bình, sử dụng công nghệ không cao, đóng góp ít vào ngân sách nhà nước. Đặc biệt, tình hình thu hút các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng tại các cụm công nghiệp trên địa bàn còn khó khăn. Hầu hết các cụm công nghiệp chưa được xây dựng hạ tầng đồng bộ và đảm bảo các điều kiện về giao thông, cấp nước, xử lý nước thải, rác thải, phòng cháy chữa cháy... Chất lượng đào tạo nhân lực chưa đáp ứng được cả về trình độ lẫn cơ cấu ngành, nghề theo nhu cầu của xã hội, doanh nghiệp.

Về thành lập mới doanh nghiệp, trong 3 tháng đầu năm, dự kiến đăng ký thành lập mới 360 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 3.800 tỷ đồng; tăng 3% về số doanh nghiệp, tăng 26,1% về vốn đăng ký (cả nước 2 tháng đầu năm giảm 15% về số doanh nghiệp thành lập mới).

5. Thương mại, giá cả, dịch vụ

5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 3 ước đạt 3.751 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,1%; tăng 7,7% so với cùng kỳ. Nguyên nhân sau Tết, nhu cầu mua sắm hàng hóa giảm; sang tháng 3 thì mọi hoạt động và công việc, hoạt động trở lại bình thường, làm cho doanh thu tháng 3 tăng khá so với tháng trước.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 2.354 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.326 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 71 tỷ đồng, tăng 8,1% so với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất đạt 1.264 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, đạt 549 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung quý I, doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt 11.385 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 7.177 tỷ đồng, chiếm 63,0% và tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 3.993 tỷ đồng, chiếm 35,1% và tăng 7,7%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 214,7 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 5,6% so với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất với 33,9% trong tổng số và đạt 3.855 tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,7% trong tổng số, đạt 1.674 tỷ đồng, tăng 12,9% so với năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 1.574 tỷ đồng, tăng 10,9% so với năm trước.

5.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 3 ước đạt 828 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; tăng 5,8% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 519 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 7,1% so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân đạt 253 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước, tăng 3,9% so với cùng kỳ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước, tăng 8,0% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 24 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước, giảm 2,8%; dịch vụ ăn uống đạt 323 tỷ đồng, tăng 0,9%; dịch vụ khác đạt 480 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước, tăng 1,2% so với cùng kỳ.

  Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 3 tháng đầu năm ước đạt 2.5001 tỷ đồng; tăng 7,0% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 1.538 tỷ đồng, chiếm 61,5% và tăng 9,3% so với năm trước; kinh tế tư nhân đạt 578 tỷ đồng, chiếm 31,9% và tăng 4,7%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 115 tỷ đồng, chiếm 4,6% và tăng 1,9% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 71 tỷ đồng, chiếm 2,9% trong tổng số và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 959 tỷ đồng, chiếm 38,3% tổng số và tăng 9,9%; dịch vụ khác đạt 1.468 tỷ đồng, chiếm 58,7% tổng số, tăng 5,4% so với cùng kỳ. 

5.3. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải tháng 3 ước đạt 862 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 23,2%, tăng 15,6% so với cùng kỳ; trong đó, vận tải hành khách đạt 115 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 7,0%, so với cùng kỳ tăng 18,9%; vận tải hàng hoá đạt 662 tỷ đồng, tăng 27,2% so với tháng trước, tăng 15,% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tháng 3 tăng  là do vừa qua tháng nghỉ Tết các hoạt động kinh doanh doanh vận tải, dịch vụ kho bãi trở lại hoạt động bình thường.

Doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải 3 tháng đầu năm đạt 2.430 tỷ đồng, tăng 8,5%; trong đó, vận tải hành khách đạt 333 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 10,3%; vận tải hàng hoá đạt 1.854 tỷ đồng, tăng 8,2%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 243 tỷ đồng, tăng 7,8%.

Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 3 ước đạt 3,0 triệu hành khách, so với tháng trước tăng 5,3%, 18,4% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 116,2 triệu hành khách.km, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ. Ba tháng đầu năm khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 8,8 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 10,0%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 343,2 triệu hành khách.km tăng 10,3% so với cùng kỳnăm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3 ước đạt 11,4 triệu tấn, so với tháng trước tăng 24,5% và tăng 12,9% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 785,6 triệu tấn.km, tăng 25,1% so với tháng trước. Ba tháng đầu năm khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 32,3 triệu tấn, so với cùng năm trước tăng 7,8%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 2.255,4 triệu tấn.km, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, tình hình hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi ước tính 3 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh Hải Dương cơ bản ổn định.

5.4. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 giảm 0,33% so với tháng trước, tăng 0,78% so với tháng 12 năm trước. Nhóm hàng thực phẩm giảm 2,76% so với tháng trước do các loại thịt (lợn, bò, gia cầm) đều giảm giá; đây là các mặt hàng thực phẩm thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu dùng nên tác động mạnh tới chỉ số giá tiêu dùng.

Bình quân 3 tháng đầu năm CPI tăng 2,97% so với bình quân cùng kỳ năm trước; trong đó, các nhóm mặt hàng: thực phẩm (+7,23%); ăn uống ngoài gia đình (+9,32%); dịch vụ giáo dục (+13,97%); đồ uống, thuốc lá (+2,26%) tăng giá lớn nhất góp phần đẩy CPI lên khá cao.

6. Thu, chi ngân sách nhà nước

Thu ngân sách 3 tháng đầu năm ước đạt khá, đã tập trung rà soát và tích cực triển khai các biện pháp thu các khoản thuế. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước đạt 5.097 tỷ đồng, bằng 34% dự toán năm, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa ước đạt 4.022 tỷ đồng, bằng 33% dự toán năm, tăng 33% so với cùng kỳ năm trước.

Tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm chi ở các cấp ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách. Bảo đảm nhu cầu chi thường xuyên, chi bảo đảm an sinh xã hội và chi đầu tư phát triển theo dự toán giao. Tổng chi cân đối ngân sách địa phương Quý 1 ước đạt 3.182 tỷ đồng, bằng 27% dự toán năm, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước.

7. Hoạt động tài chính, ngân hàng

Tiếp tục thực hiện chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp, mở rộng tín dụng có hiệu quả, tập trung vốn cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên, tín dụng chính sách; chấp hành nghiêm quy định của NHNN về an toàn kho quỹ; thực hiện tốt các giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt; tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu mới phát sinh; bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng; phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện các giải pháp ngăn chặn, hạn chế hoạt động tín dụng đen, cho vay nặng lãi. Tổng nguồn vốn huy động ước đạt khoảng 100.800 tỷ đồng, tăng 1,2% so với cuối năm 2018; tổng dư nợ tín dụng 75.200 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2018. Nợ xấu từng bước được xử lý, chiếm 1,4% tổng dư nợ.

II. Một số vấn đề xã hội

1.Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Lễ hội Văn hóa Du lịch Xứ Đông là sự kiện lớn, lần đầu tiên được tổ chức và có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, thương mại, dịch vụ và du lịch của tỉnh.

Ngoài ra, có nhiều hoạt động Văn hoá, Thể thao chào mừng các ngày lễ lớn, mừng Đảng, mừng Xuân; đặc biệt Lễ hội mùa Xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc năm 2019 với các hoạt động như lễ đúc chuông ở chùa Côn Sơn, Lễ Liên Hoa Hội Thượng.

Tiếp tục thực hiện công tác kiểm kê di sản văn hóa Ca trù tại các địa phương; hướng dẫn các câu lạc bộ Ca trù trong tỉnh duy trì nền nếp hoạt động, góp phần bảo tồn di sản văn hóa Ca trù trên địa bàn tỉnh. Ban hành kế hoạch kiểm kê tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ trên địa bàn tỉnh; triển khai lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Thể thao; Chiều 17/3, Tỉnh đoàn phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Giải khiêu vũ thể thao tỉnh Hải Dương mở rộng năm 2019 tại Nhà Thi đấu thể dục thể thao tỉnh. Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh 26/3; tạo sân chơi văn hóa, giao lưu, giải trí lành mạnh, phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo trong thanh thiếu nhi; động viên phát triển phong trào khiêu vũ trong tỉnh; phát hiện, tuyển chọn các VĐV có năng khiếu tham gia thi đấu cấp quốc gia.

2. Y tế

Chủ động triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh, một số ổ dịch bệnh ghi nhận mắc rải rác, không có biến chứng nặng và tử vong. Không ghi nhận các trường hợp mắc/nghi mắc cúm A hoặc các bệnh mới nổi.

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thường xuyên, quản lý nhà nước về y dược tư nhân, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm được đẩy mạnh. Trong 2 tháng đầu năm không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra (bằng cùng kỳ năm 2018).

Tiếp tục triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, tuy nhiên tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn có xu hướng tăng (tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2018). Triển khai kế hoạch dự án “hỗ trợ các tỉnh đồng bằng và đông Bắc bộ”, các dự án được phân bổ vốn được quan tâm đẩy nhanh tiến độ.

 3. Giáo dục

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học. Tích cực triển khai thực hiện Đề án ngoại ngữ 2020 theo kế hoạch, tạo được phong trào học ngoại ngữ sôi nổi trong trường cũng như ngoài trường học, nhiều trung tâm Anh ngữ được mở tại địa bàn tỉnh đáp ứng nhu cầu học tập ngoại ngữ phong phú của người học. Quy mô giáo dục tiếp tục tăng, công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm, số lượng trường đạt chuẩn tăng nhanh (tính đến hết tháng 12/2018, toàn tỉnh có 687 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 72,94% (tăng 61 trường và 6,9%). Đã chỉ đạo rà soát tình trạng các lớp học, công trình vệ sinh các nhà trường, đánh giá tình hình và nhu cầu sử dụng, để có giải pháp phù hợp với thực tế. Các nhà trường đảm bảo các điều kiện sách vở, tài liệu cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị dạy học đảm bảo cho việc dạy và học.

Các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên hoạt động ổn định, thực hiện tốt công tác tuyển sinh và liên kết đào tạo, đã góp phần cho việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động trên địa bàn.

4. Giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội

Giải quyết việc làm; tổ chức 15 phiên giao dịch việc làm, tham gia 03 phiên giao dịch việc làm trực tuyến do Trung tâm Dịch vụ việc làm của Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh tổ chức, thu hút sự tham gia của 225 doanh nghiệp với 2.229 người lao động. Trong đó số người nhận được việc làm sau khi phỏng vấn tại sàn giao dịch là 684 người. Trong 3 tháng đầu năm ước giải quyết việc làm cho 8812 lao động đạt 25,03% kế hoạch năm; Xuất khẩu được 1.080  lao động, đạt 25,11% kế hoạch năm.

Tiếp tục triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016-2020”, tuyển mới được 4.374 người; Công nhận tốt nghiệp cho 3.058 người.

An sinh xã hội; tổ chức tốt các hoạt động thăm, tặng quà các gia đình chính sách, trợ cấp khó khăn cho các hộ nghèo, tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, con hộ gia đình chính sách, chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt việc chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi nhân dịp Tết nguyên đán Kỷ hợi 2019. Tiếp tục thực hiện tốt công tác tiếp nhận, nuôi dưỡng, dạy chữ, dạy nghề cho các đối tượng bảo trợ xã hội.

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công và thân nhân người có công với cách mạng; triển khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo, bảo trợ xã hội, trẻ em, bình đẳng giới và phòng chống tệ nạn xã hội, góp phần quan trọng bảo đảm an sinh xã hội. Về hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, đã cấp kinh phí hỗ trợ cho tổng số 3.168 hộ xây mới và 3.728 hộ sửa chữa (đáp ứng 100% nhu cầu theo Đề án giai đoạn 1 đã được phê duyệt).

5. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Đôn đốc các huyện, thành phố, thị xã thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2019 đã được phê duyệt, hoàn thiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 trên cơ sở các chỉ tiêu phân bổ tạm thời; tiếp tục xử lý đất lấn chiếm, cấp trái thẩm quyền, đất xen kẹp, dôi dư.

Đôn đốc các chủ đầu tư, các địa phương thực hiện các thủ tục về đất đai đảm bảo tiến độ, đặc biệt đối với các công trình, các dự án theo Nghị quyết của HĐND tỉnh.

Tập trung rà soát, tháo gỡ vướng mắc trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân.

Kiểm soát chặt chẽ các nguồn ô nhiễm, nhất là khu, cụm công nghiệp và kiên quyết xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tiếp tục đôn đốc các cơ sở lắp và vận hành trạm quan trắc môi trường tự động; các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu vực đông dân cư. Phần lớn chất thải nguy hại được các doanh nghiệp ký kết với các đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển đưa đi xử lý theo đúng quy định.

Trong tháng 3, cơ quan chức năng đã phát hiện 4 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 4 vụ với tổng số tiền phạt 96 triệu đồng.

Tính chung 3 tháng đầu năm đã phát hiện 27 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 27 vụ với tổng số tiền phạt 449,5 triệu đồng.

6. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng 3/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 3 tháng đầu năm xảy ra 04 vụ cháy, nổ không bị thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 2.285 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; tháng 02/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ TNGT, làm chết 24 người, bị thương 14 người (trong đó có 01 vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng xảy ra ngày 21/01/2019 tại Km76+450 QL.5, đoạn qua xã Kim Lương, huyện Kim Thành làm chết 08 người và bị thương 08 người). So với cùng kỳ năm 2018, tai nạn giao thông giảm 10 vụ (-19,6%), số người chết giảm 01 người (-2,0%) giảm 06 người bị thương (-25,0%)./.



 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019 (28/07/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2019 (28/06/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2019 (28/05/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2019 (28/04/2019)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2019 (28/02/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019 (25/01/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2018 (27/12/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2018 (28/11/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2018 (30/10/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay84 
 Hôm qua59
 Tuần này373 
 Tất cả405436 
IP: 3.85.214.0