Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2019
Cập nhật: 19/03/2019 03:58:34 PM
Trước những thành tựu kinh tế - xã hội năm 2018 đã đạt được, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh bước vào thực hiện kế hoạch năm 2019 với một niềm tin, khí thế mới, theo tinh thần “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả, bứt phá” quyết liệt phục vụ nhân dân.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Hiện nay, các địa phương đã cơ bản thu hoạch xong cây rau mầu vụ đông; đồng thời tranh thủ thời tiết nắng ấm khẩn trương làm đất gieo trồng lúa, rau mầu vụ chiêm xuân. Đến ngày 15/02, toàn tỉnh đã thu hoạch được trên 19.000 ha rau mầu vụ đông, bằng 97% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các rau lấy lá vụ đông năm 2019 cho năng suất cao hơn so với năm trước, nhưng các loại cây lấy củ (hành củ, cà rốt) cho năng suất thấp hơn.

Tình hình tiêu thụ nông sản vụ đông năm nay cơ bản thuận lợi; hiệu quả sản xuất vụ đông năm nay đạt khá. Ước tính trừ chi phí thu nhập một sào bắp cải, su hào, súp lơ dao động từ 4 đến 5 triệu đồng/sào; riêng cây cà rốt vụ đông năm nay giá bán giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, các địa phương tích cực gieo cấy lúa Chiêm xuân và trồng các loại cây rau, màu vụ xuân trong khung thời vụ tốt nhất. Dự kiến đến ngày 25/2, toàn tỉnh sẽ gieo cấy xong, sớm hơn 15 ngày so với cùng kỳ năm trước; diện tích gieo cấy ước đạt 58.000 ha, bằng 99,2% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài việc tích cực gieo cấy lúa chiêm xuân, các địa phương đang khẩn trương gieo trồng các loại cây rau, màu vụ xuân như: ngô, lạc, bí xanh, bắp cải, dưa hấu... diện tích gieo trồng ước đạt 1.600 ha, tương đương với cùng kỳ năm trước.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 02, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục gặp khó khăn; dù bệnh nở mồm, long móng trên đàn lợn đã được kiểm soát, song người chăn nuôi chưa mạnh dạn tái đàn vì hiệu quả chăn nuôi không ổn định.

          Tổng đàn trâu trên địa bàn tỉnh tiếp tục có xu hướng giảm, do hiệu quả chăn nuôi thấp, nhu cầu dùng sức trâu để cày kéo trong sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.120 con, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Đàn bò ước đạt 21.500 con, giảm 1,0%  so với cùng kỳ năm trước.

Đàn lợn thịt của toàn tỉnh ước đạt 506.000 con, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, giá bán thịt lợn hơi có xu hướng tăng; tuy nhiên, ảnh hưởng của dịch bệnh trước đây làm người chăn nuôi chưa mạnh dạn tái đàn vì hiệu quả chăn nuôi không ổn định.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 11.500 nghìn con, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

1.3. Thuỷ sản

Nuôi trồng thuỷ sản phát triển ổn định, không có dịch bệnh, giá bán sản phẩm các loại thủy sản ổn định, hiệu quả nuôi trồng thủy sản đạt khá; phương thức nuôi cá lồng bè vẫn được duy trì và phát triển khá do phương thức nuôi lồng bè đem lại hiệu quả kinh tế cao, với các chủng loại cá đa dạng như: Diêu hồng, Rô phi đơn tính, Trắm cỏ, Cá chép nuôi giòn... Diện tích thuỷ sản đang nuôi ước đạt trên 11.000 ha, tương đương với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 6.400 tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ 2018. Công tác quản lý môi trường ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản được duy trì thường xuyên, nên dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ, rải rác.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tỉnh Hải Dương những tháng đầu năm mặc dù có nhiều biến động do ảnh hưởng của kỳ nghỉ lễ kéo dài nhưng nhìn chung vẫn giữ được đà tăng trưởng ổn định.

2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, sản xuất công nghiệp tháng 2 của tỉnh dự ước giảm 17,7%. Do năm nay thời gian nghỉ lễ nằm trọn trong những ngày đầu tháng, hơn nữa tháng 2 cũng là tháng có số ngày trong tháng thấp nhất năm, vì vậy số ngày làm việc thực tế giảm mạnh.

Với phương châm “tháng giêng không còn là tháng ăn chơi”, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã bắt tay vào làm việc ngay sau Tết để đảm bảo tiến độ giao hàng cho đối tác. Thậm chí do đặc thù công việc, nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động bình thường ngay cả trong những ngày nghỉ Tết.

Do vậy so với cùng kỳ, sản xuất công nghiệp tháng 2 của tỉnh tăng 7,7%; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,0%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 22,8%; riêng 2 ngành ngành khai khoáng giảm 14,9%sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 8,2%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm tăng 9,4%; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,5%; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 27,6%; riêng 2 ngành ngành khai khoáng giảm 18,5%sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà giảm 5,6%.

Năm 2019 tiếp tục được nhận định là năm sẽ có nhiều thuận lợi. Hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh không chỉ khởi sắc ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà ngay ở những doanh nghiệp tư nhân cũng gặt hái được nhiều thành công. Đến nay, mặt hàng của Hải Dương đã có mặt ở hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hàng hóa của Hải Dương đã chinh phục thành công nhiều thị trường khó tính.

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng điển hình như: áo phông         (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 20,4%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 28,0%; sản phẩm bằng plactic còn lại chưa phân vào đâu tăng 49,1%; đinh, đinh mũ ghim dập (trừ ghim dập dạng mảnh) tăng 53,6%; mạch điện tử tích hợp tăng 30,4%; máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, coppy,... tăng 5,4%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 11,3%; dây dẫn điện dùng cho hiệu điện thế <1000V tăng 14,5%; bơm phân phối nhiên liệu hoặc dầu bôi trơn... tăng 16,7%; bơm nước một tầng, một cửa hút, trục ngang... tăng 21,3%; máy khâu loại dùng cho gia đình tăng 20,9%; xe có động cơ chở được 05 người trở lên chưa được phân vào đâu tăng 49,2%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 29,6%;...

2.2. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tình hình lao động trong những tháng đầu và cuối năm vẫn luôn có sự dao động. Tuy nhiên những năm gần đây do môi trường làm việc cũng như đời sống công nhân viên trong các doanh nghiệp đã được quan tâm hơn do đó tình trạng bỏ việc, thiếu lao động sau Tết cũng ít diễn ra hơn.

Dự ước lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 31/01/2019 giảm 0,4% so với tháng trước, tăng 2,4% so với cùng kỳ, tính chung 2 tháng đầu năm tăng 2,6%. Các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng là: sản xuất trang phục tăng 2,7%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,7%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 12,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 1,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 37,9%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 3,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,0%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 6,1%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 11,4%.

3. Đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 01 năm 2019 đạt 104 tỷ đồng chiếm 4,8% kế hoạch năm, tăng 165,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 44 tỷ đồng, chiếm 3,7% so với kế hoạch năm, tăng 114,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 50 tỷ đồng chiếm 5,9% kế hoạch năm; vốn ngân sách cấp xã đạt 9 tỷ đồng chiếm 6,8% kế hoạch năm.

Ước tháng 2, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 58 tỷ đồng, tăng  84,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 23 tỷ đồng , tăng 39,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 29 tỷ đồng, tăng 285,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách cấp xã đạt 6 tỷ đồng chiếm 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 2 tháng đầu năm, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 162 tỷ đồng, tăng 129,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 67 tỷ đồng, tăng 81,5%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 80 tỷ đồng, tăng 285,4%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 15 tỷ đồng, tăng 17,1%.

Đầu tư nhà nước có vai trò quan trọng trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là các lĩnh vực cho quốc tế dân sinh mà cơ chế thị trường ít phát huy tác dụng hoặc tư nhân không đủ sức, ít quan tâm vì rủi ro và lợi nhuận thấp.Trong điều kiện nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có hạn, để huy động cao nguồn vốn cho đầu tư phát triển cần tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế bỏ vốn tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh và xây dựng kết cấu hạ tầng. Vốn ngân sách Nhà nước tập trung đầu tư cho các dự án hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp, hoặc không xã hội hóa được. Vấn đề mấu chốt là phải tạo hành lang pháp lý với các cơ chế, chính sách đồng bộ, công khai, minh bạch, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và lợi ích toàn xã hội.

4. Thương mại, giá cả, dịch vụ

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 02 ước đạt 3.706 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 5,6%; tăng 6,1% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 02 giảm so với tháng 01 là do tháng 01 là tháng trước Tết nguyên đán; nhu cầu mua sắm hàng hóa nhiều, làm cho doanh thu tháng 01 tăng cao, trong khi đó tháng 02 chủ yếu là sau tết.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 2.325 tỷ đồng, giảm 6,8% so với tháng trước, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 1.310 tỷ đồng, giảm 3,4% so với tháng trước và tăng 6,0% so với cùng kỳ; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 70 tỷ đồng, tăng 1,3% so với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất đạt 1.251 tỷ đồng, giảm 6,8% so với tháng trước và tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối trong tổng số, đạt 541 tỷ đồng, giảm 7,1% so với tháng trước, tăng 12,3% so với năm trước.

Doanh thu bán lẻ hàng hoá 02 tháng đầu năm 2019 ước đạt 7.631 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế, kinh tế cá thể đạt 4.821 tỷ đồng, chiếm 63,2% và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 2.666 tỷ đồng, chiếm 34,9% và tăng 7,9%; các khu vực kinh tế còn lại (nhà nước, tập thể và FDI) đạt 143,5 tỷ đồng, chiếm 1,9%, tăng 4,3% so với năm trước.

Phân theo mặt hàng; nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm cơ cấu lớn nhất với 34,0% trong tổng số và đạt 2.593 tỷ đồng, tăng 14,0% so với năm trước; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng cũng chiếm cơ cấu tương đối với 14,7% trong tổng số, đạt 1.123 tỷ đồng, tăng 13,7% so với năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 1.056 tỷ đồng, tăng 11,8% so với năm trước.

4.2. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 02 ước đạt 809 tỷ đồng, giảm 5,8% so với tháng trước; tăng 7,3% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 510 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước; kinh tế tư nhân đạt 245 tỷ đồng, giảm 18,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 38 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 23 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước; dịch vụ ăn uống đạt 319 tỷ đồng, tăng 0,8%; dịch vụ khác đạt 465 tỷ đồng, giảm 10,2% so với tháng trước.

  Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 02 tháng đầu năm ước đạt 1.667 tỷ đồng; tăng 7,3% so với cùng kỳ.

Phân theo loại hình kinh tế; kinh tế cá thể đạt 1016 tỷ đồng, chiếm 60,9% và tăng 8,1% so với năm trước; kinh tế tư nhân đạt 544 tỷ đồng, chiếm 32,6% và giảm 25,0%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 76 tỷ đồng, chiếm 4,5% và tăng 1,9% so với cùng kỳ.

Phân theo ngành kinh tế; dịch vụ lưu trú đạt 47 tỷ đồng, chiếm 2,8% trong tổng số và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 636 tỷ đồng, chiếm 38,1% tổng số và tăng 7,6%; dịch vụ khác đạt 983 tỷ đồng, chiếm 59% tổng số, tăng 7,1% so với cùng kỳ. 

4.3. Vận tải

Tháng 02 năm 2019, doanh thu vận tải, kho bãi và hỗ trợ vận tải ước đạt 701 tỷ đồng; so với tháng trước giảm 19,1%; trong đó, vận tải hành khách đạt 107 tỷ đồng, giảm 0,9%; vận tải hàng hoá đạt 523 tỷ đồng giảm 22,1%.

Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2,9 triệu hành khách, so với tháng trước giảm 1,6%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 111,5 triệu hành khách.km, giảm 3,5% so với tháng trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 9,0 triệu tấn, so với tháng trước giảm 23,3%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 627,9 triệu tấn.km, giảm 25,4% so với tháng trước.

Tính chung 02 tháng đầu năm, ước đạt 1.568 tỷ đồng, tăng 9,1%; trong đó, vận tải hành khách đạt 216 tỷ đồng, tăng 10,8%; vận tải hàng hoá đạt 1.194 tỷ đồng, tăng 9,0%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 159 tỷ đồng, tăng 7,8%.

Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 5,8 triệu hành khách, so với cùng kỳ tăng 10,7%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 227,0 triệu hành khách.km tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 21 triệu tấn, so với cùng năm trước tăng 8,7%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 1.469,9 triệu tấn.km, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.

4.4. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 02 tăng 0,94% so với tháng trước, tăng 1,11% so với tháng 12 năm trước; bình quân 02 tháng đầu năm tăng 2,97% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

CPI tăng (so với tháng trước) là do các loại lương thực, thực phẩm đều tăng giá (gạo, một số loại rau củ và thịt các loại); còn lại, các mặt hàng khác ít biến động.

II. Một số vấn đề xã hội

1.Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Hưởng ứng lời kêu gọi và làm theo lời dạy của Bác Hồ, cứ mỗi độ xuân về, nhân dân ta lại tổ chức ngày hội “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”. Năm nay, UBND tỉnh không tổ chức lễ phát động Tết trồng cây xuân Kỷ Hợi mà giao cho UBND các huyện. Thời gian thực hiện từ ngày 11/2-11/3 (tức từ mùng 7 tháng giêng đến hết 6/2 năm Kỷ Hợi). Các địa phương chủ yếu trồng cây tập trung, hạn chế trồng rải rác, khó chăm sóc và bảo vệ cây; quan tâm trồng cây ở các khu đô thị mới, công viên, công sở, trường học, khu di tích…

Lễ hội mùa xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc diễn ra từ ngày 18/2 - 27/2 (tức từ 14 - 23 tháng giêng); ngoài các nghi lễ truyền thống được giữ nguyên như những năm trước, điểm mới tại lễ hội năm nay là tổ chức lễ đúc chuông ở chùa Côn Sơn và Lễ Liên Hoa Hội Thượng được tổ chức sau 1 năm gián đoạn.

Lễ khai hội mùa Xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc đã diễn ra vào buổi tối ngày 20/2 (tức ngày 16 tháng Giêng) thay vì buổi sáng như những năm trước và được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh.

Thể thao; Ngày 9 và 10/2, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Giải "Gia đình thể thao" năm 2019 mừng Đảng, mừng xuân. Giải thu hút hơn 200 vận động viên (VĐV) đến từ các gia đình thể thao tiêu biểu của các huyện, thị xã, thành phố tham dự. Ngoài những gia đình nhiều năm gắn bó còn có không ít gia đình lần đầu tham gia giải. Đặc biệt, môn bóng bàn có nhiều VĐV "nhí" có trình độ tốt tham gia. Các VĐV thi đấu 4 môn gồm: bóng bàn, cầu lông, bóng chuyền, quần vợt.

2. Y tế

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, liên tục những ngày gần đây nhiều bệnh truyền nhiễm cùng xuất hiện, trong tuần qua toàn tỉnh ghi nhận 70 trường hợp mắc thủy đậu. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh đã phối hợp với Trung tâm Y tế các huyện, thành phố tổ chức điều tra, giám sát ổ dịch. Tăng cường tuyên truyền để người dân thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân. Hướng dẫn giáo viên tại các trường tuyên truyền cho học sinh phát hiện sớm các trường hợp mắc mới và cách ly, điều trị kịp thời; xử lý môi trường, lau sàn nhà lớp học, bàn ghế, dụng cụ đồ dùng, đồ chơi của trẻ bằng dung dịch cloramin B 0,5%.

Theo chu kỳ, dịch bệnh sởi sẽ bùng phát mạnh sau 4-5 năm một lần. Bệnh sởi thường xuất hiện và bùng phát mạnh chủ yếu vào mùa đông xuân nhưng nhiều năm nay, bệnh xuất hiện rải rác quanh năm với chủng virus có độc lực cao, rất dễ gây biến chứng nặng.

Trước đây, đối tượng mắc sởi thường tập trung ở trẻ từ 1-5 tuổi, thì hiện nhiều trẻ mới dưới 9 tháng tuổi đã bị mắc. Từ Tết Kỷ Hợi 2019 đến nay, toàn tỉnh đã ghi nhận 13 ca mắc và nghi mắc sởi, trong đó 7 người được xét nghiệm dương tính với bệnh sởi. Tại Bệnh viện Nhi Hải Dương, trong hơn 1 tháng trở lại đây cũng đã ghi nhận 6 ca mắc sởi và tập trung ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi.

 3. Giáo dục

 Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố kết quả kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm 2019. Năm nay, đội học sinh giỏi của tỉnh giành được số giải nhất nhiều nhất từ trước đến nay, với 7 giải. Ngoài ra, các em còn đoạt 17 giải nhì, 20 giải ba và 26 giải khuyến khích. Kỳ thi diễn ra từ ngày 13 – 15/01. Đội tuyển của tỉnh tham dự có 97 em, đều là học sinh Trường THPT chuyên Nguyễn Trãi.

Sáng 12.2 (mùng 8 tháng giêng), tại đền thờ Chu Văn An, thị xã Chí Linh tổ chức Lễ khai bút xuân Kỷ Hợi 2019; phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông khai mạc Hội sách xuân 2019. Lễ khai bút và Hội sách xuân được tổ chức là việc làm thiết thực thể hiện truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. Các hoạt động tôn vinh đạo học, tôn vinh giá trị sách, tri thức góp phần phát triển xã hội học tập, bồi đắp nguyên khí quốc gia, làm cho đất nước cường thịnh, thái hoà.

4. Bảo vệ môi trường

Công ty Cổ phần Phát triển công nghệ tài nguyên môi trường chi nhánh Hải Dương vừa bị Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) xử phạt 150 triệu đồng do đã xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, trong đó thông số tổng dầu mỡ khoáng vượt giới hạn cho phép 20,4 lần. Ngoài ra, công ty còn phải khắc phục hậu quả bằng cách trả kinh phí trưng cầu giám định, đo đạc và phân tích mẫu nước thải vượt quy chuẩn hơn 11,2 triệu đồng.

Trong tháng Hai, cơ quan chức năng đã phát hiện 5 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 3 vụ với tổng số tiền phạt 60 triệu đồng. Tính chung 02 tháng đầu năm đã phát hiện 23 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 18 vụ với tổng số tiền phạt 353,5 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng 02, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, nổ; không có thương vong về người nhưng thiệt hại tài sản ước tính 285 triệu đồng. Tính chung 02 tháng đầu năm xảy ra 04 vụ cháy, nổ không thương vong về người nhưng thiệt hại ước tính 2.285 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; trong tháng 01, trên địa bàn tỉnh xảy ra 26 vụ (chưa bao gồm vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng xảy ra ngày 21/01/2019 tại Km76+450 QL.5, đoạn qua xã Kim Lương, huyện Kim Thành làm 8 người chết, 8 người bị thương) làm chết 24 người, bị thương 04 người. So với cùng kỳ năm 2018, tai nạn giao thông giảm 03 vụ (-11,1%), giảm 01 người chết (-4,0%) và giảm 11 người bị thương (-73,0%)./.


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019 (28/07/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2019 (28/06/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2019 (28/05/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2019 (28/04/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019 (28/03/2019)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019 (25/01/2019)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2018 (27/12/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2018 (28/11/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2018 (30/10/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2018 (01/10/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay108 
 Hôm qua59
 Tuần này397 
 Tất cả405460 
IP: 3.85.214.0