Thống kê hàng tháng
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2018
Cập nhật: 04/08/2018 04:34:38 PM
Thời tiết thuận lợi các loại cây trồng phát triển, chăn nuôi có dấu hiệu khởi sắc; hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng và doanh thu dịch vụ tiếp tục tăng khá cao.
 

I. Kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1. Trồng trọt

Vụ chiêm xuân năm 2018 toàn tỉnh gieo trồng ước đạt 68.472 ha, giảm 0,8% (-570 ha) so với vụ chiêm xuân năm trước; trong đó, cây lương thực ước đạt 59.753 ha, chiếm 87,3% tổng diện tích, giảm 1,4% (-821 ha); cây rau các loại ước đạt 6.639 ha, chiếm 9,7% tổng diện tích, tăng 6,9% (+428 ha); các cây còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ không đáng kể.

Tổng diện tích gieo trồng giảm (-570 ha), trong đó cây lúa giảm nhiều nhất (-913 ha). Nguyên nhân chính làm diện tích lúa giảm là do: chuyển sang trồng cây hàng năm khác có hiệu quả kinh tế cao hơn (144 ha); chuyển sang trồng cây lâu năm (315 ha); chuyển mục đích sử dụng đất: xây dựng khu công nghiệp, đường giao thông, mở rộng khu dân cư, mở rộng đường nội đồng, kênh dẫn nước và một số công trình công ích khác (187 ha); chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản (40 ha); bên cạnh đó còn có các nguyên nhân khác như bỏ hoang đất (44 ha). Các địa phương có diện tích lúa giảm nhiều là: huyện Thanh Hà, Kim Thành, Kinh Môn, Cẩm Giàng...

Về cây ăn quả, đặc biệt là cây vải thiều, thời tiết năm nay tương đối thuận lợi vải ra nhiều hoa, diễn biến thời thiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao. Riêng tại huyện Thanh Hà, tỷ lệ đậu quả ở vải sớm ước đạt trên 95%, do nông dân thực hiện tốt các biện pháp chống rụng quả, vải muộn tỷ lệ ra hoa ước đạt trên 90%, trong giai đoạn này các hộ cần tập trung phun thuốc phòng trừ sâu bệnh gây hại trên cây vải đặc biệt chú ý bệnh sương mai, sâu đo.

1.2. Chăn nuôi

Chăn nuôi trên địa bàn tỉnh ổn định, không xẩy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm.

Tổng đàn trâu trên địa bàn tỉnh Hải Dương tiếp tục có xu hướng giảm, do hiệu quả chăn nuôi thấp, nhu cầu dùng sức trâu để cày kéo trong sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, tổng đàn trâu của toàn tỉnh ước đạt 4.081 con, giảm 3,1%. Đàn bò ước đạt 20.519 con, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn lợn thịt của toàn tỉnh ước đạt 518.348 con, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, giá bán thịt lợn hơi có xu hướng tăng trở lại, người chăn nuôi không còn bị thua lỗ, nhiều hộ đã đầu tư tái đàn, duy trì sản xuất, tổng đàn có xu hướng tăng so với đầu năm.

Tổng đàn gia cầm các loại (gà, vịt, ngan, ngỗng, gia cầm khác) của toàn tỉnh ước đạt 10.102 nghìn con, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước.        

1.3. Thuỷ sản

Tình hình nuôi trồng thuỷ sản phát triển ổn định, công tác vệ sinh ao nuôi và phòng trừ dịch bệnh được duy trì thường xuyên nên cơ bản dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ, rải rác. Diện tích nuôi trồng thủy sản mặt nước được duy trì ổn định, với diện tích hiện có đang nuôi trồng thủy sản ước đạt 11.200 ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2017; Phương thức nuôi lồng bè tiếp tục được duy trì và mở rộng sản xuất.

Hiện nay, toàn tỉnh ước đạt trên 2.000 lồng nuôi cá; tổng thể tích nuôi ước đạt 200.000 m­3. Phương thức nuôi lồng bè đem lại hiệu quả kinh tế khá, tuy nhiên người nuôi trồng thủy sản đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra do nhu cầu tiêu dùng đã ổn định, trong khi nguồn cung lại dồi dào do hầu hết các ao nuôi đang trong thời kỳ cho thu hoạch. Sản lượng thủy sản nuôi trồng, khai thác trong tháng 4 ước đạt 6.200 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ 2017.

2. Sản xuất công nghiệp

Bước sang quý II, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã ổn định trở lại sau tác động của kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán. Một số doanh nghiệp có biến động về lao động cũng đã bổ sung được lượng lao động cần thiết, đưa hoạt động sản xuất trở lại bình thường.

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng này ước tính giảm 1,1%; trong đó, ngành khai khoáng giảm 1,7%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,2%.

So với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng 6,6%; trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hoà tăng 2,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,6%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 11,1%; ngành khai khoáng giảm sâu (-13,9%).

Một số sản phẩm có lượng sản xuất tăng là: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, ... cho người lớn tăng 40,6%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 15,9%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 17,6%; bao bì đóng gói khác bằng plastic tăng 21,3%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 27,6%; thép hợp kim cán mỏng có chiều rộng < 600mm đã được dát, phủ, mạ hoặc tráng tăng 11,7%; mạch điện tử tích hợp tăng 19,3%; bộ phận của các linh kiện điện tử khác chưa được phân vào đâu tăng 34,1%; máy kết hợp từ hai chức năng trở lên: in, quét, coppy,... tăng 13,8%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 20,2%; dây dẫn điện dùng cho hiệu điện thế <=1000V tăng 17,5%; máy khâu loại khác, trừ máy khâu sách và máy khâu gia đình tăng 36,2%; bộ đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe ca ô tô tăng 17,7%; bộ phận thiết bị điện khác dùng cho xe có động cơ tăng 16,8%...

Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,7%, trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11,2%. Trong công nghiệp chế biến, chế tạo nhiều ngành có lượng sản xuất tăng đó là: sản xuất trang phục tăng 23,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 21,9%; sản xuất than cốc tăng 3,6%; sản xuất cao su và plastic tăng 34,8%; sản xuất kim loại tăng 7,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 19,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 26,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 27,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 4,8%. Sản xuất và phân phối điện tăng 9,0%; cung cấp nước tăng 13,1%...

Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm do ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà có lượng sản xuất đã chững lại. Thứ nhất, do lượng sản xuất đã tiệm cận tối đa công suất thiết kế nên sản lượng tăng thấp như than cốc và bán cốc luyện từ than đá; sắt thép không hợp kim cán phẳng. Thứ hai, các sản phẩm đá khai thác, xi măng, clanke do nhiều vùng nguyên liệu chưa được gia hạn khai thác, thiếu nguyên liệu, việc nhập nguyên liệu từ bên ngoài không đảm bảo được yêu cầu nên sản lượng đá khai thác giảm 5,4%; clanke xi măng giảm 15,8%; xi măng portland đen giảm 5,9%.

3. Hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 3 năm 2018 đạt 70,4 tỷ đồng, giảm 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước tháng 4 năm 2018, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 83,4 tỷ đồng, giảm 29,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 53,3 tỷ đồng, giảm 33,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã đạt 30,1 tỷ đồng, giảm 20,5% so với cùng kỳ năm trước.

Ước 4 tháng đầu năm 2018, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 224,6 tỷ đồng, giảm 29,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 138,3 tỷ đồng, giảm 39,2%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 60,8 tỷ đồng, giảm 12,1%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 25,5 tỷ đồng, tăng 11,8%.

Năm 2018 tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn nhà nước, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ và tình trạng đầu tư cả những dự án không cần thiết, kém hiệu quả, những dự án chưa hoàn thành thủ tục đầu tư đã tồn tại từ nhiều năm. Tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu chính phủ, áp dụng nghiêm ngặt các chế tài trong giám sát thi công, nghiệm thu, thanh quyết toán công trình nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời việc thi công không đúng thiết kế, không bảo đảm chất lượng, tập trung bố trí đủ vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng, có hiệu quả kinh tế xã hội cao, tập trung đầu tư công vào một số dự án trọng điểm để tập trung phát triển kinh tế địa phương.

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến hết tháng 4 ước đạt 3.177 tỷ đồng, bằng 21,9 % dự toán năm và bằng 65,3% cùng kỳ năm trước; trong đó thu nội địa 2.502 tỷ đồng, bằng 22,1% dự toán năm và bằng 63,0% cùng kỳ năm trước; thu qua hải quan 676 tỷ đồng, bằng 21,1% dự toán năm và bằng 75,5% cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15 tháng 4 ước đạt 4.359 tỷ đồng, bằng 102,9% cùng kỳ năm trước; trong đó, chi thường xuyên 3.347 tỷ đồng, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước.

5. Thương mại, giá cả, dịch vụ

5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 4 năm 2018 ước đạt 3.484 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 0,8% và tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 4 tháng đầu năm ước đạt 13.914 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo loại hình kinh tế, 4 tháng đầu năm kinh tế cá thể đạt 8.696 tỷ đồng, chiếm 62,5% và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân đạt 4.947 tỷ đồng, chiếm 35,6% và tăng 14,7%; các khu vực kinh tế còn lại chiếm tỷ trọng rất thấp.

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 4 tháng ước đạt 3.030 tỷ đồng, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Ngành dịch vụ ăn uống tăng 9,2% và chiếm tỷ trọng cao (37%) nên đóng góp nhiều nhất vào mức tăng chung.

5.2. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 4 ước đạt 634,7 tỷ đồng; so với tháng trước tăng 1,1%; trong đó, vận tải hành khách đạt 113,8 tỷ đồng, tăng 0,3%; trong đó, vận tải hàng hoá đạt 479,9 tỷ đồng tăng 1,3%.

Doanh thu cộng dồn 4 tháng đầu năm 2018 đạt 2.524 tỷ đồng, tăng  10,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vận tải hành khách đạt 468,9 tỷ đồng, tăng 11,7%; vận tải hàng hoá đạt 1.887,8 tỷ đồng, tăng 10,7%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 166,8 tỷ đồng, tăng 10,1%.

Chia theo ngành đường: đường bộ tăng 11,0%; đường biển tăng 7,8%; vận tải đường thủy nội địa tăng 10,6%. Chia theo thành phần kinh tế: kinh tế tư nhân tăng 11,1%; kinh tế cá thể tăng 10,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,1%; kinh tế có vốn nhà nước tăng 2,0%

Vận chuyển lượt khách cộng dồn 4 tháng đầu năm ước đạt 8,7 triệu lượt khách, so với cùng kỳ tăng  11,2%; hành khách luân chuyển đạt 512,3 triệu lượt hành khách/km, so với cùng kỳ tăng 11,1%.

 Khối lượng hàng hóa vận chuyển cộng dồn 4 tháng đầu năm ước đạt 23,7 triệu tấn, so với cùng kỳ tăng 10,6%; hàng hóa luân chuyển đạt là  1.642,4 triệu tấn/km, so với cùng kỳ tăng 9,8%.

5.3. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 tăng 0,07% so với tháng trước; tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,1% so với tháng 12 năm trước; tính chung 4 tháng đầu năm tăng 1,29% so với bình quân cùng kỳ.


II. Một số vấn đề xã hội

1. Văn hóa, thể thao

Văn hóa; Thư viện tỉnh tổ chức Ngày hội sách năm 2018 nhân kỷ niệm Ngày sách Việt Nam 21/4, Ngày Sách và bản quyền thế giới 23/4. Ngày hội năm nay diễn ra nhiều hoạt động thiết thực thu hút sự quan tâm của hơn 1.000 học sinh đến từ các trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hải Dương và bạn đọc của thư viện.

Thể thao; Sáng 02/4, tại di tích Văn miếu Mao Điền (Cẩm Giàng), Hội Nhà báo tỉnh phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND huyện Cẩm Giàng tổ chức khai mạc Giải vô địch Cờ tướng Hội Nhà báo tỉnh lần thứ XXII năm 2018.

Tại Nhà Thi đấu TDTT tỉnh, Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương tổ chức khai mạc và thi đấu các trận đấu trong khuôn khổ vòng 1 bảng A Giải bóng chuyền vô địch quốc gia PV GAS năm 2018. Các đội sẽ thi đấu ở bảng A gồm các đội nam: Thể Công, Biên Phòng, Long An, Quân Khu 4 và Bến Tre; các đội nữ: Thông tin Lienvietpostbank, Tiến Nông Thanh Hóa, Thái Bình, Đăk Lăk và chủ nhà Hải Dương.

2. Y tế

Theo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, bắt đầu từ 25/4, tỉnh sẽ triển khai tiêm chủng vaccine sởi-Rubella MRVAC do Việt Nam sản xuất trong tiêm chủng thường xuyên hằng tháng. Trung tâm Y tế các huyện, thị xã, thành phố đã phổ biến, hướng dẫn cho cán bộ thực hiện tiêm chủng tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn. Tuyên truyền cho các bậc cha mẹ và cộng đồng trong quá trình triển khai vaccine MRVAC, đồng thời lập danh sách các trẻ trong độ tuổi tiêm chủng (từ 18-24 tháng tuổi) chưa được tiêm vaccine phòng bệnh sởi-Rubella để tổ chức tiêm vào các đợt tiêm chủng hằng tháng ngay khi có vaccine.

Về vệ sinh an toàn thực phẩm; Ban chỉ đạo an toàn thực phẩm (ATTP) tỉnh đã tổ chức lễ phát động Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2018. Ban Chỉ đạo ATTP  tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương trong tỉnh đẩy nhanh việc phát triển vùng sản xuất, chăn nuôi an toàn, bảo đảm vệ sinh thú y, ATTP. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nghiêm túc thực hiện các quy định về bảo đảm ATTP, coi việc bảo đảm ATTP vừa là lương tâm, văn hóa kinh doanh vừa là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Các cơ quan thông tin đại chúng tích cực tham gia chiến dịch truyền thông, thông tin rộng rãi về ATTP đến người dân trong tỉnh.

3. Giáo dục

Sở Giáo dục và Đào tạo có văn bản hướng dẫn việc kiểm tra cuối học kỳ II, chuẩn bị kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 và xét tốt nghiệp lớp 9 THCS.

Sở yêu cầu các trường tổ chức ôn tập và chuẩn bị cho học sinh lớp 12 thi THPT quốc gia năm 2018. Nội dung ôn thi bao gồm kiến thức của lớp 11, 12, tập trung chủ yếu ở lớp 12. Các trường cần cập nhật đề thi do Bộ giới thiệu để giáo viên, học sinh có thể tham khảo, làm quen

Về việc kiểm tra cuối học kỳ II, Sở GDĐT yêu cầu các trường chỉ đạo, kiểm tra, rà soát toàn bộ việc thực hiện chương trình ở các khối lớp, nhất là lớp 9, lớp 12 theo đúng kế hoạch, bảo đảm bám sát yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Nghiêm cấm việc cắt xén chương trình đã quy định. Các trường THCS tổ chức xét công nhận tốt nghiệp lớp 9 từ ngày 10 đến 11/5/2018.

4. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Toàn tỉnh đã có 15 cơ sở lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động và 2 cơ sở lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường.

Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, việc lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải, nước thải tự động góp phần thay đổi nhận thức của các doanh nghiệp đối với công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời, tạo thuận lợi cho cơ quan chuyên môn giám sát hoạt động xả thải của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

Trong tháng Tư, cơ quan chức năng đã phát hiện 35 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 35 vụ với tổng số tiền phạt 291,3 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm đã phát hiện 120 vụ vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 120 vụ với tổng số tiền phạt 1.183,6 triệu đồng.

5. Trật tự an toàn xã hội

Về tai nạn cháy, nổ; trong tháng Tư, trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 735 triệu đồng. Tính chung 4 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 15 vụ cháy, nổ thiệt hại ước tính 2.248 triệu đồng.

Về tai nạn giao thông; Quý I năm 2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 64 vụ tai nạn và 04 vụ va chạm giao thông, làm chết 63 người, làm bị thương 37 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ TNGT tăng 29 vụ (82,9%), tăng 27 người chết (75%) và tăng 09 người bị thương (32%).

Tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra ở đường bộ với 60 vụ làm chết 60 người ; còn lại đường sắt xảy ra 04 vụ, làm chết 03 người. TNGT rất nghiêm trọng xảy ra 02 vụ, làm 04 người chết, 01 người bị thương./.


 
Các tin mới hơn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2018 (01/10/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2018 (01/09/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2018 (28/07/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018 (28/06/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2018 (28/05/2018)
Các bài liên quan
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 năm 2018 (28/03/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2018 (28/02/2018)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018 (29/01/2018)
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2017 (29/12/2017)
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2017 (28/11/2017)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Truyền thông
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay274 
 Hôm qua148
 Tuần này907 
 Tất cả370275 
IP: 3.80.218.53